Cụ thể, theo Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 52/2008/QĐ-TTg ngày 25/4/2008, theo đó cả nước có 26 Khu kinh tế cửa khẩu với tổng diện tích hơn 660 nghìn ha, đã có 21 trong tổng số 25 tỉnh biên giới đất liền có Khu kinh tế cửa khẩu được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; còn bốn (4) tỉnh dự kiến sẽ thành lập Khu kinh tế cửa khẩu, bao gồm Nậm Cắn – Thanh Thủy (Nghệ An) và Na Mèo (Thanh Hóa) trước năm 2015; Đắk Per (Đắk Nông) và Đắk Ruê (Đắk Lắk) trong giai đoạn 2016-2020. Ngoài ra, giai đoạn 2016-2020, tỉnh Quảng Trị sẽ được thành lập thêm 1 Khu kinh tế cửa khẩu (La Lay).
![]() |
| Tính đến nay, các Khu kinh tế cửa khẩu đã thu hút được khoảng 800 dự án đầu tư. |
Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, các Khu kinh tế cửa khẩu đã góp phần vào đẩy mạnh thu hút đầu tư, mở rộng quy mô thị trường, tăng cường giao lưu hàng hóa, kích thích sản xuất và tăng tính cạnh tranh cho các sản phẩm hàng hóa trong thời gian qua.
Năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu qua các Khu kinh tế cửa khẩu đạt 13,5 tỷ USD, tăng 2,5 lần so với năm 2010 và tăng gần 8 lần so với năm 2005. Tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 2006-2010 đạt 25%, giai đoạn 2011-2015 đạt 20%; cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu chung của cả nước trong cùng thời kỳ.
Tổng thu ngân sách nhà nước qua các Khu kinh tế cửa khẩu năm 2015 đạt trên 10.000 tỷ đồng, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2010, trong đó tập trung chủ yếu tại các Khu kinh tế cửa khẩu giáp với Trung Quốc.
Tính đến nay, các Khu kinh tế cửa khẩu đã thu hút được khoảng 800 dự án đầu tư, trong đó có 700 dự án đầu tư trong nước với số vốn đăng ký đầu tư trên 50.000 tỷ đồng và khoảng 100 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 700 triệu USD.
Tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội, mở rộng quan hệ, giao lưu, củng cố tình hữu nghị với các nước láng giềng. Tuy nhiên, theo đánh giá, một số Khu kinh tế cửa khẩu còn thiếu quy hoạch chung xây dựng, dẫn đến các dự án đầu tư xây dựng được lập chỉ dựa vào quy hoạch chi tiết các khu chức năng nên có hiện tượng đầu tư dàn trải, thiếu sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Quy mô nguồn vốn còn nhỏ nên cơ cở hạ tầng tại các Khu kinh tế cửa khẩu chưa được đầu tư đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.
Bên cạnh đó, các Khu kinh tế cửa khẩu thường nằm tại các địa phương, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn nên chủ yếu vẫn dựa vào nguồn ngân sách trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Vì thế việc triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ. Hiện tại, tính trung bình, nhu cầu nguồn vốn ngân sách trung ương đầu tư cơ sở hạ tầng tại các Khu kinh tế cửa khẩu hàng năm khoảng 1.500-1.700 tỷ đồng, trong khi ngân sách trung ương mới hỗ trợ được khoảng 600-700 tỷ đồng/năm.
Ngoài ra, thu hút đầu tư sản xuất, kinh doanh vào các Khu kinh tế cửa khẩu gặp nhiều khó khăn do các cơ chế, chính sách tài chính đối với Khu kinh tế cửa khẩu được xây dựng dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nên chưa có các ưu đãi đặc thù và thiếu sự ổn định.