Chuyên gia hiến kế gỡ điểm nghẽn tín dụng và dòng vốn cho doanh nghiệp bất động sản

Trong bối cảnh thị trường gặp nhiều khó khăn về tín dụng và tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, một số ý kiến cho rằng nới room tín dụng hoặc lập Quỹ bình ổn thị trường trái phiếu cũng cần được tính đến.

Nghẽn room tín dụng và khó khăn trong tiếp cận vốn cho doanh nghiệp BĐS

Từ quý I/2022, thị trường đã xảy ra hiện tượng nghẽn tín dụng và việc tiếp cận vốn cho doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại. Đến hiện tại là giữa tháng 11/2022, nhưng vấn đề càng trở nên khó khăn hơn khi dòng vốn trái phiếu xảy ra những rủi ro và thay đổi trong cách quản lý.

Tại talkshow với chủ đề "Gỡ nghẽn dòng tiền" do báo Đầu tư tổ chức, TS. Trần Minh Tuấn, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán Smart Invest cho biết, trước đây quy mô thị trường trái phiếu chưa lớn nên việc nó biến động ra sao không mấy ảnh hưởng đến thị trường tài chính nói chung.

Tuy nhiên, với quy mô hiện tại, việc thị trường trái phiếu bị nghẽn làm mất niềm tin của nhà đầu tư trên thị trường, từ đó dẫn đến các thị trường vốn khác cũng bị nghẽn lại và sụt giảm. Thị trường cổ phiếu cũng bị ảnh hưởng dẫn đến doanh nghiệp không thể phát hành cổ phiếu để tăng vốn chủ sở hữu.

Thị trường tín dụng từ giữa tháng 4 đã bị nghẽn do sự tăng trưởng tín dụng nhanh, mạnh sau thời kỳ Covid-19 và các doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn. Khi đó, các doanh nghiệp liên quan như xây dựng cũng ảnh hưởng theo. Tiếp cận các kênh huy động vốn khó khăn nên nội tại doanh nghiệp tự tạo ra dòng tiền sản xuất kinh doanh càng trở nên khó khăn hơn, đặc biệt đối với ngành bất động sản (BĐS) Việt Nam. 

Đây chỉ là một ngành trong nền kinh tế nhưng lại rất rộng, bao gồm BĐS nhà ở, BĐS khu công nghiệp, BĐS du lịch... nhưng chúng ta cần xem xét dạng BĐS nào nên hạn chế hoặc thúc đẩy.

"Chính vì chưa phân định được điều này dẫn đến việc chúng ta làm hạn chế chung cho toàn ngành bất động sản trong việc tiếp cận vốn. Khi toàn bộ các nhóm ngành bất động sản khó khăn trong việc tiếp cận vốn nên các ngành sản xuất kinh doanh khác cũng bị ảnh hưởng nặng nề", ông Tuấn cho biết.

Đơn cử, các ngành sản xuất kinh doanh thiết yếu khác khi có hạn mức tín dụng nhất định với các ngân hàng thương mại khi hoạt động sản xuất kinh doanh của họ có tiền về, trả vào hạn mức tín dụng, các ngân hàng thương mại lại không cấp tín dụng ra nữa do hết room. Điều này khiến các doanh nghiệp rất khó khăn trong việc xoay sở trả tiền nguyên vật liệu, nhân công để tiếp tục trong vận hành sản xuất kinh doanh.

Sản xuất kinh doanh dần thu hẹp khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp tục duy trì hoạt động, chưa nói đến việc mở rộng hoặc yếu tố ngoại cảnh như đơn hàng xuất khẩu bị chậm hay nhu cầu trên thế giới sụt giảm, dẫn đến dòng vốn luân chuyển trong doanh nghiệp bị khó.

Bàn thêm về vấn đề room tín dụng, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã có nhiều phân tích.

Ông cho hay, thứ nhất, cả năm nay, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14% nhưng nếu tính theo tháng so với cùng kỳ năm trước, có thời điểm tốc độ tăng trưởng tín dụng lên tới 17%. Trong giai đoạn đó, tổng cung tiền chỉ tăng 5 - 6% nhưng tăng trưởng tín dụng lại tăng mạnh dẫn đến áp lực về thanh khoản với hệ thống ngân hàng thể hiện bằng việc tăng lãi suất điều hành, tăng lãi suất huy động.

Thứ hai, dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nhiều năm trì hoãn dần dần tỷ lệ huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhưng nhiều tháng đầu năm nay, tỷ lệ tín dụng cho vay lĩnh vực bất động sản (cả cho nhà đầu tư lẫn người tiêu dùng cá nhân vay để sửa chữa nhà hay là đầu tư thứ cấp) lại tăng nhanh hơn mức tăng trung bình của tín dụng.

Theo đó, khi cho vay trung và dài hạn, khoản vay có thể thu lại được theo thời gian lại giảm đi, chưa nói đến các vấn đề khó khăn, nợ xấu khi cho vay trung và dài hạn. Khi khoản cũ thu lại chậm, thì cho vay sẽ khó. 

TS Võ Trí Thành. (Ảnh: Báo Đầu tư).

Ngoài ra, một lượng tiền rất lớn hàng trăm nghìn tỷ huy động từ trái phiếu Chính phủ dành cho đầu tư công và các chương trình phục hồi cũng chưa chi được nhiều. Thắt chặt tiền tệ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tăng trưởng, hồi phục. 

Với thị trường hiện nay, tâm lý phòng thủ rất cao, nhà đầu tư có thể có tiền nhưng không muốn xuống tiền. Cái khó trong điều hành hiện nay là cùng lúc phải xử lý ba bài toán một lúc là ổn định lạm phát, cán cân thanh toán quốc tế nhưng phải đảm bảo an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng và thúc đẩy quá trình phục hồi. Phía trước chắc chắn khó khăn, nhiều dự báo tăng trưởng kinh tế tiếp tục phục hồi nhưng sẽ chậm lại, tăng trưởng kinh tế khoảng 6%, lạm phát ở mức cao 4,5%.

Gỡ nghẽn dòng vốn cho các doanh nghiệp

Trong bối cảnh thị trường gặp nhiều khó khăn, một số ý kiến cho rằng nới room tín dụng hoặc lập Quỹ bình ổn thị trường trái phiếu cũng cần được tính đến. 

Nêu ý kiến về các quan điểm trên, ông Thành cho biết, hiện nay, tổng lượng trái phiếu trên thị trường giá trị xấp xỉ với trái phiếu chính phủ, khoảng 1,3 - 1,4 triệu tỷ. Trong đó, lớn nhất là do ngân hàng thương mại phát hành, thứ hai là BĐS. Do đó, cần có sự minh bạch, thống kê trong việc phát hành. Thứ hai cần có cách xử lý sai phạm trong giai đoạn khó khăn sao cho hài hòa.

Thứ ba là gói giải cứu như của Trung Quốc cũng rất đáng xem xét. Trong đó đáng chú ý đến việc nới điều kiện cho vay BĐS, nới tín dụng cấp cho người mua nhà và tạo điều kiện thị trường trái phiếu vận hành ổn định trở lại. 

Mặc dù vừa rồi Chính phủ đã ban hành Nghị định 65 sửa đổi Nghị định 153 liên quan đến thị trường trái phiếu riêng lẻ nhưng có nhiều kiến nghị cho rằng chặt chẽ quá, trong đó có quy định phát hành cho nhà đầu tư cá nhân nhưng đòi hỏi tính chuyên nghiệp. Bởi vậy, Chính phủ cũng cần xem xét nới lỏng quy định. 

Ngoài ra, nhiều gói đầu tư công, nhiều gói không thích hợp ở thời điểm này nữa thì linh hoạt chuyển sang những lĩnh vực khác.

Về việc lập Quỹ bình ổn giải cứu thị trường trái phiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh cho rằng đây là ý tưởng không mới, dù so sánh hơi khập khiễng nhưng về bản chất giống với việc thành lập Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thu dọn nợ xấu sang một bên để dòng tiền vận hành bình thường trở lại.

Giống như vậy, Quỹ bình ổn trái phiếu sẽ tham gia mua lại trái phiếu để thanh khoản thông suốt, doanh nghiệp và nhà đầu tư bớt khó khăn.

Tuy nhiên, có một số vấn đề. Thứ nhất, Quốc hội liệu có cho phép sử dụng tiền ngân sách để “giải cứu cứu” trái phiếu hay không.

Thứ hai, từ bài học xử lý nợ xấu giai đoạn vừa qua (cho dù Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 42 về thí điểm xử lý nợ xấu), song đến nay nợ xấu vẫn chưa thể xử lý xong, cho thấy ý tưởng này có thể sẽ gặp nhiều khó khăn nếu triển khai.

Nếu không có cơ chế xử lý ngay từ đầu thì không cẩn thận, thoát được ít nhiều điểm nghẽn này lại tạo ra điểm nghẽn khác, làm quá trình cải cách, tái cơ cấu hệ thống tài chính càng thêm khó khăn. Còn với số tiền ngân sách thuộc về tài khóa, dù chưa chi được, nhưng phải gắn với kế hoạch quyết liệt chi tiêu đầu tư công thời gian tới. Nếu chúng ta nhìn con số 200.000 - 300.000 tỷ đồng thì rất lớn, nhưng so với nhu cầu hiện nay (cả tín dụng hiện tại và tín dụng cấp mới) thì không phải là quá lớn.

Nói thêm về room tín dụng, Phó chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán Smart Invest đề xuất NHNN cần xem xét điều chỉnh room tín dụng sao cho phù hợp trong dài hạn. 

Room tín dụng năm 2022 là 14%, nhưng thực tế triển khai là chúng ta không giao 14% đó cho tăng trưởng của từng ngân hàng thương mại là bao nhiêu từ đầu năm, mà lại giao một tỷ lệ nhất định ở trong một giai đoạn nhất định. Sau đó, mới lại xem xét giao tỷ lệ tăng trưởng tiếp. 

Đây là một công cụ để kiểm soát lượng cung tiền trên thị trường, vậy nên chăng chúng ta linh hoạt hơn về room tín dụng trong những năm tới bằng cách NHNN sẽ có những tính toán và xem xét xem những ngân hàng thương mại nào đảm bảo các điều kiện để giao một tỷ lệ tăng trưởng tín dụng từ đầu năm để các ngân hàng chủ động điều tiết trong room đã được cấp.

Vì ngoài ra, có những giai đoạn cao điểm NHNN chưa kịp nới room cho các ngân hàng thương mại để cho vay hoạt động sản xuất kinh doanh của từng ngành.

Yếu tố thứ hai ông Tuấn cho hay cần cần phải xem xét là không nên bó cứng room tín dụng cho toàn ngành, mà chỉ ở một số phân ngành có tính chất đầu cơ cao, đặc biệt là những phân ngành về đầu tư cổ phiếu.

Còn với bất động sản, cần lựa chọn những phân ngành cụ thể để bó cứng room tín dụng. Những dự án tốt không nên bó cứng, vì nếu như vậy sẽ dẫn đến việc giá bất động sản không giảm đi, mà còn tăng lên và việc tiếp cận với bất động sản chính yếu của những người có nhu cầu sẽ ngày càng khó, bởi lượng cung trên thị trường ngày càng ít.

Về đề xuất có nên cho ngân hàng quốc doanh vay 50% để cấp cứu thanh khoản cho doanh nghiệp hiện nay, ông Tuấn cho rằng thanh khoản bị tắc nghẽn, không nằm ở trong nội tại hệ thống NHNN và ngân hàng thương mại, thanh khoản giữa các thành phần kinh tế với ngân hàng thương mại mới đang là vấn đề.

"Doanh nghiệp không tiếp cận được vốn mới là vấn đề, chứ không phải các ngân hàng thương mại không tiếp cận được với vay liên ngân hàng của NHNN. Vì vậy, nếu có sử dụng dòng tiền này, ngân hàng cũng chưa có cơ chế để giải ngân", ông Tuấn khẳng định.

chọn
Châu Thành đã chuẩn bị gì để trở thành trung tâm đô thị - công nghiệp của Hậu Giang?
Theo quy hoạch tỉnh Hậu Giang thời kỳ 2021-2030, Châu Thành được định hướng là trung tâm phát triển về công nghiệp và đô thị trong trung và dài hạn. Địa phương này nằm trên tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau và đang có hàng loạt dự án BĐS lớn nhỏ hiện diện.