|
Ngày 13/05/2026 |
Chênh lệch |
||||
|
Khu vực |
Bình 12kg |
Bình 48kg |
Bình 12kg |
Bình 48kg |
|
|
Miền Bắc |
Hà Nội |
598.104 |
2.392.416 |
- |
- |
|
Hải Phòng |
596.160 |
2.428.704 |
- |
- |
|
|
Miền trung |
Đà Nẵng |
587.000 |
2.263.000 |
- |
- |
|
Miền Nam |
TP HCM |
592.000 |
2.364.000 |
- |
- |
|
Cần Thơ |
550.000 |
2.200.000 |
- |
- |
|
Bảng giá gas từng khu vực ngày 13/5/2026 được cập nhật lúc 10h00. (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Ghi nhận ngày 13/5/2026, giá gas tiếp tục ghi nhận mặt bằng giá không đổi tại các khu vực được khảo sát. Sau nhịp điều chỉnh đầu tháng, thị trường gas trong nước đang bước vào giai đoạn ổn định hơn, khi các mức giá bán lẻ tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM và Cần Thơ đều chưa xuất hiện chênh lệch mới.
Miền Bắc: Tại miền Bắc, giá gas tại Hà Nội hiện giữ ở mức 598.104 đồng đối với bình 12kg và 2.392.416 đồng đối với bình 48kg. Giá gas tại Hải Phòng cũng đi ngang với mức 596.160 đồng/bình 12kg và 2.428.704 đồng/bình 48kg. Đây vẫn là khu vực có mặt bằng giá thuộc nhóm cao trong bảng khảo sát.
Miền Trung: Đà Nẵng tiếp tục duy trì giá gas ổn định khi bình 12kg được niêm yết ở mức 587.000 đồng, còn bình 48kg ở mức 2.263.000 đồng. Việc không có biến động mới cho thấy các đại lý phân phối vẫn đang giữ chính sách giá thận trọng, chưa tạo thêm áp lực lên người tiêu dùng.
Miền Nam: giá gas tại TP HCM hôm nay đạt 592.000 đồng cho bình 12kg và 2.364.000 đồng cho bình 48kg. Trong khi đó, Cần Thơ tiếp tục là khu vực có giá thấp nhất, lần lượt ở mức 550.000 đồng và 2.200.000 đồng cho hai loại bình dân dụng và công nghiệp.
Nhìn chung, giá gas hiện tại đang đi ngang tại tất cả khu vực, phản ánh tâm lý thận trọng của các doanh nghiệp phân phối trước biến động năng lượng thế giới.
|
Ngày 13/05/2026 |
Chênh lệch |
||||||
|
Thương hiệu |
Khu vực |
Bình 12kg |
Bình 45kg |
Bình 48 kg (gas công nghiệp) |
Bình 12kg |
Bình 45kg |
Bình 48 kg (gas công nghiệp) |
|
Petrolimex |
Hà Nội |
598.104 |
- |
2.392.416 |
- |
- |
- |
|
SAIGON PETRO |
654.500 |
2.455.000 |
- |
- |
- |
- |
|
|
Pacific Petro |
677.000 |
2.509.000 |
- |
- |
- |
- |
|
|
PV GAS |
Hà Nội |
610.600 |
2.289.750 |
- |
- |
- |
- |
|
TP HCM |
667.081 |
2.501.509 |
- |
- |
- |
- |
|
Bảng giá gas các thương hiệu ngày 13/5/2026 được cập nhật lúc 10h00. (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Giá gas hôm nay tại nhóm thương hiệu lớn tiếp tục duy trì trạng thái ổn định khi chưa có doanh nghiệp nào điều chỉnh biểu giá mới.
Petrolimex: giá gas Petrolimex vẫn giữ mức 598.104 đồng cho bình 12kg tại Hà Nội và 2.392.416 đồng đối với bình gas công nghiệp 48kg, phản ánh xu hướng neo giá quen thuộc của nhóm thương hiệu đầu mối lớn trên thị trường.
SAIGON PETRO: hiện niêm yết giá bình 12kg ở mức 654.500 đồng, trong khi dòng bình 45kg đạt 2.455.000 đồng.
Pacific Petro: tiếp tục nằm trong nhóm có giá bán cao nhất với 677.000 đồng cho bình dân dụng 12kg và 2.509.000 đồng cho bình 45kg.
PV GAS: thương hiệu này đang áp dụng mức giá 610.600 đồng cho bình 12kg tại Hà Nội và 2.289.750 đồng cho bình 45kg. Riêng tại TP HCM, giá gas PV GAS được ghi nhận ở mức 667.081 đồng cho bình 12kg và 2.501.509 đồng cho bình 45kg, cao hơn đáng kể so với khu vực phía Bắc.
Nhìn chung, giá gas hiện tại giữa các thương hiệu vẫn có độ chênh lệch khá lớn, đặc biệt ở phân khúc bình dân dụng 12kg. Trong khi Petrolimex duy trì mức giá thấp hơn mặt bằng chung, Pacific Petro và PV GAS tại TP HCM tiếp tục nằm trong nhóm có giá bán cao nhất thị trường.
Theo oilprice, giá khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) tăng vọt và nguồn cung từ Trung Đông giảm đã khiến Nhật Bản và Hàn Quốc tăng sản lượng điện than và nhập khẩu than trong những tuần gần đây.
Sản lượng điện từ khí đốt tại Nhật Bản và Hàn Quốc, hai quốc gia nhập khẩu LNG lớn thứ hai và thứ ba thế giới sau Trung Quốc, đã giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều tháng vào tháng Tư và đầu tháng Năm. Nguyên nhân là do nguồn cung từ Trung Đông sụt giảm mạnh, không có chuyến hàng nào của Qatar đi qua eo biển Hormuz từ ngày 28 tháng Hai đến cuối tuần trước, khi chuyến hàng đầu tiên vượt qua điểm nghẽn này để đến Pakistan.
Theo dữ liệu thị trường do Reuters trích dẫn, giá khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) ở Bắc Á đã tăng vọt hơn 60% kể từ khi chiến tranh bắt đầu, trong khi giá than đá vận chuyển bằng đường biển quốc tế chỉ tăng khiêm tốn hơn nhiều, ở mức 13% .
Do cú sốc nguồn cung LNG, cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều đã tăng cường sản xuất điện từ than đá. Tại Nhật Bản, sản lượng điện từ than đá tăng 11,1% trong tháng 4, mức tăng lớn nhất trong một năm, trong khi sản lượng điện từ khí đốt giảm 13%, theo số liệu chính thức của Nhật Bản.
Tại Hàn Quốc, sự gia tăng sử dụng than thậm chí còn rõ rệt hơn, với nguồn cung điện than trong tháng 4 tăng vọt 40%, mức tăng lớn nhất kể từ tháng 8 năm 2019, theo số liệu do Reuters trích dẫn.
Do nguồn cung khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) đang khan hiếm và giá thành cao hơn nhiều so với trước khi chiến tranh bắt đầu, cả Hàn Quốc và Nhật Bản đều đang tăng đáng kể nhập khẩu than đá để bù đắp sự thiếu hụt nguồn cung khí đốt và hưởng lợi từ việc giá than đá tăng ít hơn so với giá LNG.
Chiến tranh và việc đóng cửa eo biển Hormuz không ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng than toàn cầu nhưng đã thúc đẩy việc vận chuyển than tăng cao do nhu cầu tăng vọt để thay thế một phần lượng khí đốt bị mắc kẹt ở Trung Đông.
Lượng than vận chuyển và nhập khẩu toàn cầu tăng mạnh trong tháng 3 và tháng 4 khi người mua tranh giành nhiên liệu trong bối cảnh nguồn cung dầu khí từ Trung Đông bị gián đoạn nghiêm trọng.
Theo số liệu từ BIMCO, hiệp hội chủ tàu lớn nhất thế giới, công bố tuần trước, lượng than xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản và Liên minh châu Âu trong tháng trước đã tăng 27% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ảnh: Gia Ngọc