Tại khu vực miền Bắc, giá heo hơi trong ngày 4/5 không ghi nhận biến động mới.
Hưng Yên tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất khu vực, giữ ở 66.000 đồng/kg.
Các tỉnh Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội và Hải Phòng cùng duy trì mức 65.000 đồng/kg.
Giá heo tại s Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La tiếp tục giao dịch ở mức 64.000 đồng/kg.
Hiện giá heo hơi tại miền Bắc dao động từ 64.000 đồng/kg đến 66.000 đồng/kg.
|
Địa phương |
Giá (đồng) |
Tăng/giảm (đồng) |
|
Tuyên Quang |
64.000 |
- |
|
Cao Bằng |
64.000 |
- |
|
Thái Nguyên |
65.000 |
- |
|
Lạng Sơn |
64.000 |
- |
|
Quảng Ninh |
65.000 |
- |
|
Bắc Ninh |
65.000 |
- |
|
Hà Nội |
65.000 |
- |
|
Hải Phòng |
65.000 |
- |
|
Ninh Bình |
64.000 |
- |
|
Lào Cai |
64.000 |
- |
|
Lai Châu |
64.000 |
- |
|
Điện Biên |
64.000 |
- |
|
Phú Thọ |
64.000 |
- |
|
Sơn La |
64.000 |
- |
|
Hưng Yên |
66.000 |
- |
Giá heo hơi hôm nay tại miền Bắc. (Tổng hợp: Hà My)
Tại miền Trung – Tây Nguyên, thị trường heo hơi tiếp tục ổn định trong ngày 4/5.
Lâm Đồng vẫn dẫn đầu khu vực với mức 69.000 đồng/kg, trong khi Đắk Lắk duy trì ở 68.000 đồng/kg.
Thanh Hóa, Nghệ An, Gia Lai và Khánh Hòa tiếp tục cùng giao dịch heo hơi ở mức 65.000 đồng/kg.
Các địa phương Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi giữ nguyên mức 64.000 đồng/kg.
Hiện giá heo hơi tại miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 64.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
|
Địa phương |
Giá (đồng) |
Tăng/giảm (đồng) |
|
Thanh Hoá |
65.000 |
- |
|
Nghệ An |
64.000 |
- |
|
Hà Tĩnh |
64.000 |
- |
|
Quảng Trị |
64.000 |
- |
|
Huế |
64.000 |
- |
|
Đà Nẵng |
64.000 |
- |
|
Quảng Ngãi |
64.000 |
- |
|
Gia Lai |
65.000 |
- |
|
Đắk Lắk |
68.000 |
- |
|
Khánh Hoà |
65.000 |
- |
|
Lâm Đồng |
69.000 |
- |
Giá heo hơi hôm nay tại miền Trung, Tây Nguyên. (Tổng hợp: Hà My)
Tại miền Nam, thị trường ghi nhận một biến động tích cực trong phiên hôm nay.
Cụ thể, giá heo tại Đồng Nai tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 70.000 đồng/kg, trở thành địa phương có giá heo hơi cao nhất cả nước.
Các tỉnh Đồng Tháp, TP HCM, Vĩnh Long và Cần Thơ tiếp tục giữ mức 69.000 đồng/kg.
Tây Ninh, An Giang và Cà Mau duy trì giao dịch ở mức 68.000 đồng/kg.
Hiện giá heo hơi tại miền Nam dao động từ 68.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
|
Địa phương |
Giá (đồng) |
Tăng/giảm (đồng) |
|
Đồng Nai |
70.000 |
+1.000 |
|
Tây Ninh |
68.000 |
- |
|
Đồng Tháp |
69.000 |
- |
|
An Giang |
68.000 |
- |
|
Cà Mau |
68.000 |
- |
|
TP HCM |
69.000 |
- |
|
Vĩnh Long |
69.000 |
- |
|
Cần Thơ |
68.000 |
- |
Giá heo hơi hôm nay tại miền Nam. (Tổng hợp: Hà My)
Nhìn chung, giá heo hơi ngày 4/5 có xu hướng ổn định trên diện rộng, song sự tăng giá tại Đồng Nai cho thấy tín hiệu tích cực từ khu vực chăn nuôi trọng điểm phía Nam. Việc xuất hiện mốc 70.000 đồng/kg có thể tạo lực đẩy cho thị trường trong những phiên tới.
Ảnh: Hà My
Theo Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam, trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao và sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, ngành chăn nuôi Việt Nam đang chuyển mạnh từ tăng số lượng sang nâng cao chất lượng, đẩy mạnh tự chủ con giống, ứng dụng công nghệ và phát triển theo chuỗi giá trị bền vững.
Theo đánh giá của cơ quan quản lý chuyên ngành, chăn nuôi tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng của nông nghiệp Việt Nam, đóng góp lớn vào nguồn cung thực phẩm và sinh kế của hàng triệu hộ dân. Chính vì vậy, việc chuyển từ tư duy “nuôi nhiều” sang “nuôi tốt” được xem là yêu cầu trước mắt, đồng thời là hướng đi lâu dài để ngành chăn nuôi nâng sức cạnh tranh, giảm phụ thuộc bên ngoài và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Dù diện tích đất đai không lớn, Việt Nam vẫn duy trì quy mô chăn nuôi thuộc nhóm cao trên thế giới. Tổng đàn lợn hiện đứng thứ 5 thế giới về đầu con và thứ 6 về sản lượng. Đàn thủy cầm đạt khoảng 103 triệu con, đứng thứ 2 thế giới sau Trung Quốc. Sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp đạt trên 21,5 triệu tấn, dẫn đầu khu vực ASEAN. Sản lượng sữa nguyên liệu xếp thứ 3 trong khu vực.
Bước sang năm 2026, toàn ngành phấn đấu đạt sản lượng 8,66 triệu tấn thịt, 19 tỷ quả trứng và 1,5 triệu tấn sữa. Quy mô đàn vật nuôi dự kiến tiếp tục duy trì ở mức lớn với đàn lợn khoảng 31,4 triệu con, đàn gia cầm khoảng 558,6 triệu con, đàn bò khoảng 6,18 triệu con và đàn trâu khoảng 2,3 triệu con.
Những mục tiêu này có cơ sở khi kết quả quý I/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Tổng đàn lợn ước tăng 2,9%, đàn gia cầm tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 197,7 triệu USD, tăng 54,3%.
Cần biết 05:00 | 30/04/2026
Cần biết 05:00 | 29/04/2026
Cần biết 05:00 | 28/04/2026
Cần biết 05:00 | 24/04/2026
Cần biết 05:00 | 23/04/2026
Cần biết 17:00 | 22/04/2026
Cần biết 05:00 | 22/04/2026
Cần biết 17:00 | 21/04/2026