Giá vàng trong nước hôm nay 1/10 tiếp tục đi lên nhưng đà tăng đã hạ nhiệt so với phiên trước. Tại SJC chi nhánh TP HCM, Tập đoàn Doji và PNJ chi nhánh Hà Nội, giá vàng miếng cùng tăng 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 140,8 triệu đồng/lượng mua vào và 143,8 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại SJC chi nhánh TP HCM, giá vàng miếng tăng 300.000 đồng/lượng, đưa giá mua vào lên 140,8 triệu đồng/lượng và bán ra 143,8 triệu đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán được giữ ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Doji cũng nâng giá vàng miếng thêm 300.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, lên 140,8 - 143,8 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, Tập đoàn Phú Quý điều chỉnh cùng mức 300.000 đồng/lượng, đưa giá mua vào lên 140,5 triệu đồng/lượng và bán ra 143,8 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán tại đây là 3,3 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ chi nhánh Hà Nội, giá vàng miếng cũng tăng 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 140,8 triệu đồng/lượng mua vào và 143,8 triệu đồng/lượng bán ra.
Không đứng ngoài nhịp tăng, giá vàng nữ trang hôm nay đồng loạt nhích lên ở cả vàng 24K, 18K và 14K.
Vàng 24K tăng 300.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, lên 137,8 triệu đồng/lượng mua vào và 142,3 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch mua - bán ở mức 4,5 triệu đồng/lượng.
Với vàng 18K, giá tăng 225.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Giá mua vào hiện đạt 97,09 triệu đồng/lượng, còn bán ra ở 106,89 triệu đồng/lượng.
Ở dòng vàng 14K, mức tăng là 175.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Giá hiện lần lượt ở 73,32 triệu đồng/lượng và 83,12 triệu đồng/lượng.
|
Giá vàng |
01/10/2026 |
Thay đổi (nghìn đồng/lượng) |
|||
|
Mua vào (triệu đồng/lượng) |
Bán ra (triệu đồng/lượng) |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Vàng miếng |
SJC chi nhánh TP HCM |
140,80 |
143,80 |
+300 |
+300 |
|
Tập đoàn Doji |
140,80 |
143,80 |
+300 |
+300 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
140,50 |
143,80 |
+300 |
+300 |
|
|
PNJ chi nhánh Hà Nội |
140,80 |
143,80 |
+300 |
+300 |
|
|
Vàng nữ trang |
99,99% (vàng 24K) |
137,80 |
142,30 |
+300 |
+300 |
|
75% (vàng 18K) |
97,09 |
106,89 |
+225 |
+225 |
|
|
58,3% (vàng 14K) |
73,32 |
83,12 |
+175 |
+175 |
|
Vàng miếng SJC tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 9h00 (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Số liệu: Wichart, SJC (Gia Ngọc tổng hợp)
Thị trường giá vàng nhẫn hôm nay cũng nối dài đà tăng, song mức điều chỉnh có sự phân hóa giữa các thương hiệu.
Tại SJC, giá vàng nhẫn tròn trơn tăng 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 140,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Tập đoàn Doji tăng nhẹ hơn, thêm 200.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Giá vàng nhẫn Doji hiện ở 140 triệu đồng/lượng mua vào và 144 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch mua - bán đạt 4 triệu đồng/lượng.
Tại Tập đoàn Phú Quý, giá vàng nhẫn tăng 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 140,5 - 143,5 triệu đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
PNJ cũng tăng 300.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Giá vàng nhẫn PNJ hiện ở 140,8 triệu đồng/lượng mua vào và 143,8 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Giá vàng nhẫn tròn trơn |
01/10/2026 |
Thay đổi (nghìn đồng/lượng) |
|||
|
Mua vào (triệu đồng/lượng) |
Bán ra (triệu đồng/lượng) |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Vàng nhẫn |
SJC |
140,30 |
143,30 |
+300 |
+300 |
|
Tập đoàn Doji |
140,00 |
144,00 |
+200 |
+200 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
140,50 |
143,50 |
+300 |
+300 |
|
|
PNJ |
140,80 |
143,80 |
+300 |
+300 |
|
Vàng nhẫn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 9h00 (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Số liệu: Wichart, SJC (Gia Ngọc tổng hợp)
Giá vàng giảm trong phiên giao dịch ngày thứ Tư (30/9), khép lại tháng 9 trong sắc đỏ khi đà tăng của giá năng lượng gây sức ép lên kim loại quý, lấn át tác động tích cực từ số liệu lạm phát Mỹ thấp hơn dự kiến và làm thay đổi kỳ vọng về chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Chốt phiên, giá vàng giao ngay giảm 0,7% xuống 4.152,86 USD/ounce. Trước đó, kim loại quý từng tăng sau khi số liệu lạm phát Mỹ được công bố thấp hơn dự báo. Tính chung tháng 9, giá vàng giảm 6,6%. Trong khi đó, giá vàng giao sau tăng 0,2% lên 4.186,70 USD/ounce.
Trong phiên sáng ngày 1/10, giá vàng tiếp tục đi xuống. Lúc 7h10 (giờ Việt Nam), theo Kitco, giá vàng giao ngay giảm 0,11% xuống 4.151,2 USD/ounce, còn giá vàng giao tháng 12 giảm 0,1% xuống 4.182,4 USD.
Theo Tai Wong, một nhà giao dịch kim loại độc lập, giá năng lượng tăng khiến thị trường trái phiếu mất đà, qua đó tạo thêm sức ép lên các kim loại quý. Ông cho rằng diễn biến này gây thất vọng đối với vàng, dù khả năng Fed tăng lãi suất trong tháng 10 đã giảm đáng kể sau khi số liệu PCE lõi thấp hơn dự kiến.
Số liệu từ Cục Phân tích Kinh tế thuộc Bộ Thương mại Mỹ cho thấy chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) tăng 0,3% trong tháng 8, sau mức tăng 0,1% trong tháng 7, đã được điều chỉnh giảm. PCE lõi tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, tương đương mức tăng của tháng 7 sau điều chỉnh.
Theo công cụ FedWatch của CME, thị trường hiện đánh giá xác suất Fed tăng lãi suất trong tháng 10 khoảng 39%, giảm từ 45% trước khi số liệu PCE được công bố. Trong khi đó, khả năng Fed tăng lãi suất vào tháng 12 được định giá ở mức 90%.
Đồng USD giảm sau khi số liệu PCE được công bố, nhưng vẫn hướng tới một tháng tăng giá. Đồng bạc xanh mạnh hơn khiến vàng được định giá bằng USD trở nên đắt hơn đối với người mua sử dụng các đồng tiền khác.
Fed sử dụng các chỉ số PCE để theo dõi mục tiêu lạm phát 2%. Sau khi nâng lãi suất lên khoảng 3,75%-4% trong tháng này, ngân hàng trung ương Mỹ phát tín hiệu có thể tiếp tục tăng lãi suất trong những tháng tới.
Dù vàng thường được xem là công cụ phòng ngừa lạm phát, môi trường lãi suất cao làm giảm sức hấp dẫn của kim loại quý so với các tài sản có khả năng sinh lợi suất.
Trong khi đó, giá dầu tăng và ghi nhận mức tăng mạnh trong tháng khi các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Iran nhằm chấm dứt xung đột rơi vào đình trệ. Tiến triển chậm chạp trong đàm phán làm dấy lên lo ngại giá năng lượng có thể duy trì ở mức cao, kéo dài áp lực lạm phát và khiến chính sách tiền tệ có nguy cơ thắt chặt hơn.
Trên các thị trường kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 2,1% xuống 60,18 USD/ounce, bạch kim giảm 0,4% xuống 1.699,40 USD/ounce, còn palladium giảm 1,5% xuống 1.204,53 USD/ounce.
Cả bạc, bạch kim và palladium đều ghi nhận một tháng giảm giá. Trong khi đó, vàng, bạc và bạch kim vẫn hướng tới mức tăng tính theo quý.
Ảnh: Gia Ngọc
Cần biết 14:00 | 30/09/2026
Cần biết 14:00 | 29/09/2026
Cần biết 09:42 | 29/09/2026
Cần biết 14:05 | 28/09/2026
Cần biết 09:31 | 28/09/2026
Cần biết 14:15 | 25/09/2026
Cần biết 09:26 | 25/09/2026
Cần biết 14:00 | 24/09/2026