Giá vàng hôm nay 29/9 tiếp tục giảm mạnh 2,4 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra tại SJC chi nhánh TP HCM, Tập đoàn Doji, Tập đoàn Phú Quý và PNJ chi nhánh Hà Nội. Sau khi điều chỉnh, giá vàng miếng tại cả bốn hệ thống cùng được niêm yết ở 138 triệu đồng/lượng mua vào và 141 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại SJC chi nhánh TP HCM, giá vàng miếng SJC giảm 2,4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống 138 - 141 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Doji, Tập đoàn Phú Quý và PNJ chi nhánh Hà Nội cũng đồng loạt giảm cùng mức, đưa giá bán ra về 141 triệu đồng/lượng.
Cụ thể, vàng 24K giảm 2,4 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, xuống 135 triệu đồng/lượng mua vào và 139,5 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch mua - bán là 4,5 triệu đồng/lượng.
Vàng 18K giảm 1,801 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều. Giá mua vào hiện còn 94,99 triệu đồng/lượng, trong khi bán ra ở 104,79 triệu đồng/lượng, tương ứng chênh lệch 9,8 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, vàng 14K giảm 1,399 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Giá hiện đứng ở 71,69 - 81,49 triệu đồng/lượng, với khoảng cách mua - bán 9,8 triệu đồng/lượng.
|
Giá vàng |
29/09/2026 |
Thay đổi (nghìn đồng/lượng) |
|||
|
Mua vào (triệu đồng/lượng) |
Bán ra (triệu đồng/lượng) |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Vàng miếng |
SJC chi nhánh TP HCM |
138,00 |
141,00 |
-2.400 |
-2.400 |
|
Tập đoàn Doji |
138,00 |
141,00 |
-2.400 |
-2.400 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
138,00 |
141,00 |
-2.400 |
-2.400 |
|
|
PNJ chi nhánh Hà Nội |
138,00 |
141,00 |
-2.400 |
-2.400 |
|
|
Vàng nữ trang |
99,99% (vàng 24K) |
135,00 |
139,50 |
-2.400 |
-2.400 |
|
75% (vàng 18K) |
94,99 |
104,79 |
-1.801 |
-1.801 |
|
|
58,3% (vàng 14K) |
71,69 |
81,49 |
-1.399 |
-1.399 |
|
Vàng miếng SJC tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 9h00 (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Số liệu: Wichart, SJC (Gia Ngọc tổng hợp)
Thị trường vàng nhẫn tròn trơn cũng chứng kiến phiên giảm mạnh khi cả bốn thương hiệu đều điều chỉnh đi xuống.
Tại SJC, giá vàng nhẫn giảm 2,4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống 137,5 triệu đồng/lượng mua vào và 140,5 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Doji giảm 2 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Giá vàng nhẫn Doji hiện ở mức 138,2 triệu đồng/lượng mua vào và 142,2 triệu đồng/lượng bán ra. Khoảng cách mua - bán lên tới 4 triệu đồng/lượng, đồng thời đây cũng là mức bán ra cao nhất trong nhóm.
Tại Tập đoàn Phú Quý, giá vàng nhẫn giảm 2,4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống 138 - 141 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
PNJ cũng giảm 2,4 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Giá vàng nhẫn hiện còn 138 - 141 triệu đồng/lượng, tương ứng khoảng cách mua - bán 3 triệu đồng/lượng.
|
Giá vàng nhẫn tròn trơn |
29/09/2026 |
Thay đổi (nghìn đồng/lượng) |
|||
|
Mua vào (triệu đồng/lượng) |
Bán ra (triệu đồng/lượng) |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Vàng nhẫn |
SJC |
137,50 |
140,50 |
-2.400 |
-2.400 |
|
Tập đoàn Doji |
138,20 |
142,20 |
-2.000 |
-2.000 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
138,00 |
141,00 |
-2.400 |
-2.400 |
|
|
PNJ |
138,00 |
141,00 |
-2.400 |
-2.400 |
|
Vàng nhẫn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 9h00 (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Số liệu: Wichart, SJC (Gia Ngọc tổng hợp)
Giá vàng giảm mạnh trong phiên giao dịch ngày thứ Hai (28/9), với mức giảm 3,5%, xuống thấp nhất trong hơn bảy tuần, khi giá dầu tăng làm dấy lên lo ngại lạm phát và củng cố kỳ vọng chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục được thắt chặt. Đồng USD và lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ cùng đi lên cũng tạo thêm áp lực lên kim loại quý.
Chốt phiên, giá vàng giao ngay giảm 3,5% xuống 4.136,81 USD/ounce, sau khi có thời điểm rơi xuống 4.110,55 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 5/8. Giá vàng giao tháng 12 cũng giảm 3,5%, xuống 4.168,40 USD/ounce.
Trong phiên sáng ngày 29/9, thị trường diễn biến trái chiều. Lúc 7h00 (giờ Việt Nam), theo Kitco, giá vàng giao ngay tăng 0,3% lên 4.125,7 USD/ounce, trong khi giá vàng giao tháng 12 giảm 0,3% xuống 4.155,9 USD.
Jim Wyckoff, chuyên gia phân tích thị trường tại American Gold Exchange, cho rằng giá dầu thô tăng mạnh đang làm gia tăng lo ngại về áp lực lạm phát, qua đó củng cố khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt hơn.
Theo ông Wyckoff, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng cùng đồng USD duy trì gần mức cao trong nhiều tuần đang tạo ra sức ép kép đối với giá kim loại quý.
Đồng USD hiện ổn định gần mức cao nhất trong hai tháng, khiến vàng được định giá bằng đồng bạc xanh trở nên đắt hơn đối với người mua ở các thị trường khác. Trong khi đó, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tiếp tục tăng, làm gia tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng – tài sản không sinh lãi.
Giá dầu tăng khoảng 3% sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump bác bỏ đề xuất hòa bình của Iran nhằm giải quyết xung đột giữa hai nước và mở lại Eo biển Hormuz. Giá năng lượng cao hơn có thể khiến áp lực lạm phát gia tăng, buộc các ngân hàng trung ương duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài hơn.
Mặc dù vàng thường được coi là công cụ phòng ngừa lạm phát, môi trường lãi suất cao lại làm giảm sức hấp dẫn của kim loại quý khi các tài sản sinh lợi suất trở nên hấp dẫn hơn.
Theo công cụ FedWatch của CME, các nhà giao dịch hiện định giá khoảng 94% khả năng Fed tăng lãi suất vào tháng 12. Fed đã nâng lãi suất điều hành thêm 0,25 điểm phần trăm vào đầu tháng này và phát tín hiệu có thể tiếp tục tăng trong những tháng tới.
Một số quan chức Fed cũng tiếp tục cảnh báo về rủi ro lạm phát cao và khả năng lãi suất cần được nâng thêm. Chủ tịch Fed Cleveland Beth Hammack là một trong những quan chức mới nhất nhắc lại quan điểm này, qua đó củng cố lập trường thắt chặt của ngân hàng trung ương Mỹ.
Trong tuần này, thị trường sẽ tập trung vào hàng loạt dữ liệu kinh tế quan trọng của Mỹ, gồm số liệu việc làm còn trống, báo cáo việc làm ADP, chỉ số chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) và báo cáo việc làm phi nông nghiệp.
Trên các thị trường kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 4,5% xuống 61,39 USD/ounce, giá bạch kim giảm 2,8% xuống 1.727,88 USD/ounce, trong khi palladium giảm 3,6% xuống 1.220,65 USD/ounce.
Ảnh: Gia Ngọc
Cần biết 09:42 | 29/09/2026
Cần biết 09:31 | 28/09/2026
Cần biết 14:15 | 25/09/2026
Cần biết 09:26 | 25/09/2026
Cần biết 14:00 | 24/09/2026
Cần biết 09:35 | 24/09/2026
Cần biết 14:18 | 23/09/2026
Cần biết 09:35 | 23/09/2026