Lỗ hổng pháp lý và câu chuyện niềm tin trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Nguồn vốn huy động qua chứng khoán và trái phiếu mới chiếm 26%, tức là cứ 4 đồng vốn huy động thì chỉ có một đồng từ thị trường vốn, còn lại chủ yếu qua kênh tín dụng.
 

 Toạ đàm “Mục tiêu phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp: Niềm tin và Trách nhiệm”. (Ảnh: TTXVN).

Để tìm giải pháp hàn gắn thị trường trái phiếu doanh nghiệp với “khoảng trống” pháp lý hiện nay và lấy lại niềm tin trên thị trường sau những rủi ro phát sinh, cũng như nhìn nhận rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường, sáng 13/9, chuyên trang điện tử Bizlive đã tổ chức tọa đàm với chủ đề: “Mục tiêu phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp: Niềm tin và Trách nhiệm”.

Chia sẻ tại tọa đàm, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch HĐQT Công ty Trách nhiệm hữu hạn Luật SBLAW cho biết, thời gian qua xảy ra một số vụ việc liên quan trái phiếu, ông Hà được một số nhà đầu tư cá nhân mời đại diện làm việc với nhà phát hành.

Trong quá trình làm việc, ông Hà nhận thấy, các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân không hiểu nhiều về các vấn đề vĩ mô, bản chất trái phiếu, họ quan niệm mua trái phiếu như gửi tiết kiệm. Lãi suất trái phiếu cao hơn ngân hàng thì họ nhảy vào, không quan tâm tài sản đảm bảo là gì, hay các vấn đề liên quan.

Khi xảy ra một số vụ việc với sự tham gia của các cơ quan tư pháp, hiện nay nhiều lãnh đạo công ty phát hành vướng lao lý. Chúng ta chưa có kinh nghiệm trong xử lý việc này.  Khi đại diện nhà đầu tư làm việc, họ chỉ có mong muốn lấy lại tiền khi mua trái phiếu, đặc biệt trái phiếu đến hạn mong muốn lãnh đạo doanh nghiệp vướng lao lý, Cơ quan Điều tra có cho tại ngoại để xử lý các vấn đề.

Tuy nhiên, trong cơ chế nền tư pháp Việt Nam thì khó cho tại ngoại để xử lý. Giai đoạn tới phải xem xét cách xử lý, ứng xử của các đơn vị nếu lãnh đạo doanh nghiệp vướng lao lý.

Bên cạnh đó, cần đảm bảo quyền lợi nhà đầu tư, đặc biệt nhà đầu tư cá nhân. Hiện nhà đầu tư cá nhân lo lắng không lấy lại được tiền. Một số chủ doanh nghiệp mong muốn bán các dự án để xử lý, trả lại tiền cho nhà đầu tư. Nhưng cơ chế xử lý hiện nay không được, tiền vào kho bạc, vào cơ quan điều tra phải đợi các phiên tòa, bản án của tòa.

“Tôi nghĩ vấn đề ở đây khía cạnh tư pháp trong thời gian tới Chính phủ cần nghiên cứu xử lý những trường hợp doanh nghiệp sắp tới đáo hạn không trả được tiền cho nhà đầu tư, cần có cơ chế xử lý, đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư.

Trong Nghị định 153 quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế ban hành ngày 31/12/2020, hiệu lực thi hành ngày 1/1/2021 (Nghị định 153) cần có cơ chế đảm bảo việc đó, khi mà niềm tin nhà đầu tư đi xuống sau những vụ việc vừa qua”, ông Hà đề xuất.

TS. Nguyễn Tú Anh, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương bày tỏ băn khoăn: “Nhiều ý kiến cho rằng phải xây dựng các cơ quan xếp hạng tín nhiệm để lấy niềm tin, vậy niềm tin với đơn vị xếp hạng lấy ở đâu ra?”.

Theo ông Anh, công cụ phát triển niềm tin tốt hơn là xây dựng bảo hiểm rủi ro. Chúng ta xây dựng những định chế đảm bảo, rằng rủi ro ít thì họ trả phí ít, rủi ro nhiều thì trả phí nhiều… thị trường khi đó sẽ tự vận hành một cách mượt mà hơn, bền vững hơn. Trách nhiệm thuộc về cơ quan nhà nước cần xây dựng hệ thống pháp luật, xây dựng niềm tin cho nhà đầu tư, ông Anh nêu quan điểm.

Theo ban tổ chức tọa đàm, đã bốn tháng qua hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp mới rơi vào khoảng trống đột ngột. Từ sự bùng nổ và liên tục gia tăng trong các năm 2020 và 2021, hoạt động phát hành mới ở các lĩnh vực ngoài ngân hàng rơi vào trầm lắng suốt từ tháng 4/2022 đến nay.

Dẫn báo cáo Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA), ban tổ chức tọa đàm cho biết, trong tháng 8/2022, có 26 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ với giá trị 13.930 tỷ đồng và một đợt phát hành trái phiếu ra công chúng trị giá 300 tỷ đồng.

Tuy nhiên; trong đó, chủ yếu là trái phiếu của các ngân hàng thương mại; các lĩnh vực khác tiếp tục khá hạn chế, chỉ có hai đợt phát hành từ CTCP Fuji Nutri Food và CTCP Đầu tư và kinh doanh nhà Khang Điền với tổng giá trị 1.800 tỷ đồng.

Những rủi ro đầu tư và rủi ro pháp lý bộc lộ ở một số trường hợp sau giai đoạn phát triển nóng, cùng hướng siết chặt lại cơ chế pháp lý, đặc biệt ở việc sửa đổi Nghị định 153 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp được cho là nguyên do của sự sụt giảm phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Trên thị trường tiền tệ, bối cảnh ngột ngạt của room tăng trưởng tín dụng kéo dài, lãi suất tăng lên và thậm chí có những thời điểm căng thẳng thanh khoản hệ thống ngân hàng…, cũng khiến hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp thêm bất lợi.

Chính trong bối cảnh ngột ngạt room tín dụng, dòng vốn đầu tư công không phát huy được vai trò và giá trị dẫn kết, nhu cầu vốn của cộng đồng doanh nghiệp tăng cao thì cầu nối thị trường trái phiếu doanh nghiệp lại phát sinh khoảng trống đột ngột kéo dài.

Trong khi đó, Chính phủ liên tiếp có các định hướng, đề án đặt mục tiêu phát triển mạnh thị trường vốn; trong đó có trọng tâm thị trường trái phiếu với mục tiêu đạt 20% GDP đến năm 2025.

TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết, hiện nay doanh nghiệp đang trong quá trình phục hồi, nhưng sự hồi phục còn gian nan. Ngoài vấn đề khó khăn hậu đại dịch, vấn đề vốn rất cần quan tâm, doanh nghiệp đang rất cần tiếp sức nguồn vốn nhưng hiện các van của nguồn vốn đang gặp nhiều ách tắc.

TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. (Ảnh: TTXVN).

“Nếu không khơi thông được dòng chảy nguồn vốn thì kết quả phục hồi rất khó được như kỳ vọng”, ông Lộc nói.

Ngân hàng Nhà nước cũng đã nới room cho các ngân hàng, nhưng chúng ta đang đứng trước sức ép của lạm phát nên việc cho phép nới room sẽ không nhiều. Do đó, nguồn cung ứng tín dụng vào nền kinh tế cũng đang hạn chế so với nhu cầu về nguồn vốn để phục hồi và phát triển nên thị trường đang kỳ vọng vào các van tín dụng khác cho nền kinh tế qua kênh chứng khoán, trái phiếu…

Có thể thấy ở các nước kênh vốn chủ yếu đến từ thị trường vốn nhưng Việt Nam vẫn chủ yếu đến từ tín dụng. Thị trường vốn Việt Nam có phát triển khá mạnh trong 5 năm gần đây nhưng vẫn còn non trẻ.

Nguồn vốn huy động qua chứng khoán và trái phiếu mới chiếm 26%, tức là cứ 4 đồng vốn huy động thì chỉ có một đồng từ thị trường vốn, còn lại chủ yếu qua kênh tín dụng.

“Đây là vấn đề cần tháo gỡ của Việt Nam. Cần phải làm sao để nguồn vốn của người dân trực tiếp tham gia vào quá trình huy động vốn chứ không phải qua kênh tiết kiệm ngân hàng", ông Lộc nói.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp cũng đang đa dạng hóa các nguồn vốn; trong đó có qua kênh chứng khoán và trái phiếu. Dù vậy, ông Lộc cho rằng, về ngắn hạn thời gian tới đến hạn thanh toán trái phiếu của các doanh nghiệp, như vậy các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường nhất là doanh nghiệp bất động sản đang gặp khó khăn rất lớn nên cần tháo gỡ ngay những khó khăn nếu không sẽ có những đổ vỡ.

Những động thái của các cơ quan chức năng thời gian qua giúp thị trường thanh lọc song cũng cần có những tháo gỡ để thị trường vốn được khơi thông, ông Lộc đề xuất.

TS. Trương Văn Phước, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia cho rằng, trong xã hội đã có phân công nhiệm vụ, khi dòng vốn ngắn hạn thì giao cho ngành ngân hàng, còn về vốn dài hạn thì phải dựa vào thị trường trái phiếu.

Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. “Vậy ở Việt Nam đã có cơ quan nào quản lý, chịu trách nhiệm chính cho thị trường vốn hay chưa”, ông Phước đặt câu hỏi.

Theo ông Phước, những gì vừa xảy ra trên thị trường vốn là một hồi chuông cảnh báo, bởi chúng ta không có một thể chế chịu trách nhiệm cuối cùng.

Vị chuyên gia này cho rằng, muốn phát triển một thị trường vốn lành mạnh, tiên tiến thì chúng ta cần có một định chế độc lập, cần một cơ quan có chức năng tổ chức, thanh tra, giám sát và chịu trách nhiệm cho sự vận động của thị trường tài chính nói chung và thị trường vốn nói riêng.

“Cũng cần phải có các định chế xếp hạng sức khỏe của doanh nghiệp, nhà đầu tư từ đó quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình", ông Phước nêu quan điểm.

chọn