Theo Dự thảo, Thủ đô Hà Nội định hướng hình thành mạng lưới TOD dọc theo toàn bộ hệ thống đường sắt đô thị; ưu tiên quỹ đất cho không gian công cộng, cây xanh và hạ tầng xã hội, hạn chế phát triển nhà ở thương mại sau khi di dời các cơ sở công nghiệp, trường đại học, bệnh viện gây ô nhiễm...
Cụ thể, về mô hình đô thị nén và TOD, thành phố ưu tiên phát triển mô hình "đô thị nén" tại các khu vực kết nối đường sắt đô thị (TOD). Cho phép tăng mật độ xây dựng và tầng cao (40 - 50 tầng) tại các điểm nén này để giải phóng diện tích mặt đất cho cây xanh và không gian công cộng, hình thành các "đô thị 15 phút".
Một khu đô thị mới tại Hà Nội. (Ảnh tư liệu: Hạ Vũ).
Phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (Transit - Oriented Development – TOD) là mô hình quy hoạch và thiết kế đô thị trong đó các khu vực sử dụng đất mật độ cao, đa chức năng, đi bộ được bố trí tập trung xung quanh các nhà ga và trạm giao thông công cộng trong bán kính đi bộ thuận tiện, thường từ 400 đến 800 m (tương đương 5 – 10 phút đi bộ).
Đến năm 2045, Hà Nội mục tiêu hình thành mạng lưới TOD dọc theo toàn bộ hệ thống đường sắt đô thị và các tuyến giao thông công cộng khối lượng lớn. Các khu TOD trở thành các trung tâm kinh tế - dịch vụ - thương mại - văn hóa mới của Thủ đô.
Chỉ tiêu đất đô thị, Thủ đô phấn đấu tỷ lệ đất xây dựng đô thị đạt khoảng 45 - 50% diện tích đất tự nhiên vào năm 2045 và khoảng 55 - 60% vào năm 2065.
Về việc tái thiết đô thị, khu vực nội đô lịch sử thực hiện tái thiết kết hợp bảo tồn. Quỹ đất sau khi di dời các cơ sở công nghiệp, trường đại học, bệnh viện gây ô nhiễm sẽ được ưu tiên cho không gian công cộng, cây xanh và hạ tầng xã hội, hạn chế phát triển nhà ở thương mại chất tải thêm dân số.
Không gian ngầm, thành phố quy hoạch không gian ngầm đa năng (thương mại, bãi đỗ xe, bể ngầm chứa nước chống ngập) tại khu vực nội đô và các khu tái thiết để tiết kiệm quỹ đất mặt; ưu tiên quỹ đất hoàn thiện các tuyến đường Vành đai 4, Vành đai 5, các trục hướng tâm và hệ thống đường sắt đô thị; bố trí quỹ đất cho Sân bay thứ 2 vùng Thủ đô tại khu vực phía Nam (Ứng Hòa - Phú Xuyên).
Đối với đất dự trữ chiến lược, Hà Nội xác lập các quỹ đất dự trữ chiến lược quy mô lớn (500 - 1.000 ha) tại khu vực Bắc sông Hồng và trục phía Nam để dành dư địa cho các dự án đột phá trong tương lai (tầm nhìn 50 - 100 năm).
Trung tâm tài chính, thương mại, bố trí quỹ đất tại các vị trí đắc địa (khu vực hữu ngạn sông Hồng, Tây Hồ Tây) để hình thành các Trung tâm Tài chính quốc tế, khu thương mại tự do (FTZ), tổ hợp văn phòng cao cấp (CBD) nhằm tạo nguồn thu ngân sách lớn và động lực kinh tế.
Hà Nội chuyển đổi tư duy từ giữ đất nông nghiệp đơn thuần sang phát triển kinh tế nông nghiệp sinh thái; rà soát quỹ đất nông nghiệp (khoảng 190.000 ha), xem xét chuyển đổi một phần đất trồng lúa kém hiệu quả sang đất trồng rừng, công viên rừng, hồ điều hòa để kiến tạo vành đai xanh, nêm xanh theo mô hình "Thành phố trong rừng - Rừng trong thành phố".
Tại các vành đai xanh (Mê Linh, Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm), hình thành các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp đô thị, phục vụ nhu cầu thực phẩm sạch cho Thủ đô.
Thành phố cũng sẽ chỉnh trang các khu dân cư hiện trạng, mở rộng diện tích đất ở thông qua xây dựng các khu dân cư mới quy mô tập trung (xây dựng hạ tầng và thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất); không chuyển mục đích diện tích đất công và đất khác (ngoài đất ở) sang đất ở; diện tích đất công được bảo vệ để dự trữ cho các mục đích công cộng.
Ổn định quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp, ưu tiên phát triển các ngành mũi nhọn có khả năng tạo sự tăng trưởng nhanh trong nông nghiệp, ưu tiên phát triển nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất sản phẩm chất lượng, giá trị kinh tế cao phục vụ nhu cầu của Thủ đô; đảm bảo ổn định diện tích đất trồng lúa (đặc biệt là diện tích đất chuyên trồng lúa), duy trì và bảo vệ diện tích rừng hiện có, phát triển rừng và sản xuất lâm nghiệp theo quy hoạch được phê duyệt.
Hạn chế đến mức thấp nhất chuyển đổi đất nông nghiệp trồng 2 vụ lúa sang phát triển các KCN, sân golf, các khu đô thị; có kế hoạch khai thác quỹ đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp...