|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 5/10 |
Phiên ngày 3/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
0 |
0 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
0 |
0 |
|
TP HCM |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
0 |
0 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
140,30 |
143,50 |
140,30 |
143,50 |
0 |
0 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
0 |
0 |
|
Hà Nội |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
0 |
0 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
139,30 |
143,30 |
139,50 |
143,50 |
-200 |
-200 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
141,50 |
143,00 |
142,00 |
143,50 |
-500 |
-500 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Hà My)
Trưa 5/10, giá vàng miếng SJC giữ nguyên tại Công ty SJC, tập đoàn Doji, tập đoàn Phú Quý và hệ thống PNJ so với ngày 3/10, trong khi Bảo Tín Minh Châu giảm 200.000 đồng/lượng và cửa hàng Mi Hồng giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều.
Công ty SJC duy trì giá mua vào ở mức 140,5 triệu đồng/lượng và bán ra 143,5 triệu đồng/lượng, không thay đổi so với phiên đối chiếu.
Tại Hà Nội và TP HCM, tập đoàn Doji tiếp tục niêm yết vàng miếng SJC ở mức 140,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143,5 triệu đồng/lượng bán ra, giữ nguyên ở cả hai chiều giao dịch.
Tập đoàn Phú Quý giữ giá thu mua tại 140,3 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra ổn định ở mức 143,5 triệu đồng/lượng so với ngày 3/10.
Hệ thống PNJ tại TP HCM và Hà Nội cũng chưa điều chỉnh giá, với chiều mua vào duy trì ở 140,5 triệu đồng/lượng và chiều bán ra ở 143,5 triệu đồng/lượng.
Ở Bảo Tín Minh Châu, giá mua vào hạ xuống 139,3 triệu đồng/lượng và bán ra còn 143,3 triệu đồng/lượng, cùng giảm 200.000 đồng/lượng so với phiên đối chiếu.
Cửa hàng Mi Hồng giảm giá mua và bán cùng 500.000 đồng/lượng, đưa mức niêm yết xuống 141,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra. Đây là mức giảm mạnh nhất trong nhóm khảo sát, song đơn vị này vẫn có giá thu mua cao nhất, với chênh lệch giữa giá mua và bán ở mức 1,5 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 5/10 |
Phiên ngày 3/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
140,00 |
143,00 |
140,00 |
143,00 |
0 |
0 |
|
Tập đoàn Doji |
139,50 |
143,50 |
139,50 |
143,50 |
0 |
0 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
140,30 |
143,30 |
140,30 |
143,30 |
0 |
0 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
0 |
0 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
139,30 |
143,30 |
139,50 |
143,50 |
-200 |
-200 |
|
Mi Hồng |
141,50 |
143,00 |
142,50 |
143,50 |
-1.000 |
-500 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Hà My)
Khảo sát lúc 11h30 ngày 5/10 cho thấy giá vàng nhẫn tròn trơn giữ nguyên tại Công ty SJC, tập đoàn Doji, tập đoàn Phú Quý và hệ thống PNJ so với ngày 3/10, trong khi Bảo Tín Minh Châu giảm giá ở cả hai chiều và cửa hàng Mi Hồng hạ giá mua vào mạnh nhất, tới 1 triệu đồng/lượng.
Công ty SJC duy trì giá vàng nhẫn ở mức 140 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi ở cả hai chiều giao dịch.
Tại tập đoàn Doji, giá thu mua đứng ở mức 139,5 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra giữ tại 143,5 triệu đồng/lượng so với ngày 3/10.
Tập đoàn Phú Quý tiếp tục niêm yết vàng nhẫn ở mức 140,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra, giữ nguyên so với phiên đối chiếu.
Hệ thống PNJ cũng chưa điều chỉnh giá, với chiều mua vào ở mức 140,5 triệu đồng/lượng và chiều bán ra ở 143,5 triệu đồng/lượng. Cùng với tập đoàn Doji, đơn vị này có giá bán vàng nhẫn cao nhất trong nhóm khảo sát.
Bảo Tín Minh Châu giảm giá mua vào và bán ra cùng 200.000 đồng/lượng, đưa mức niêm yết xuống lần lượt 139,3 triệu đồng/lượng và 143,3 triệu đồng/lượng.
Cửa hàng Mi Hồng hạ giá thu mua 1 triệu đồng/lượng, còn 141,5 triệu đồng/lượng; giá bán ra giảm 500.000 đồng/lượng, xuống 143 triệu đồng/lượng. Giá mua giảm mạnh hơn giá bán khiến chênh lệch giữa hai chiều mở rộng lên 1,5 triệu đồng/lượng, dù đơn vị này vẫn dẫn đầu về giá thu mua trong nhóm khảo sát.
Ảnh minh hoạ: Hà My
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 5/10 |
Phiên ngày 3/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
137,5 |
142 |
137,5 |
142 |
0 |
0 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
138,5 |
141,5 |
138,5 |
141,5 |
0 |
0 |
|
TP HCM |
138,5 |
141,5 |
138,5 |
141,5 |
0 |
0 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
137,00 |
142,00 |
137,00 |
142,00 |
0 |
0 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
137,50 |
142,50 |
137,50 |
142,50 |
0 |
0 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
137,30 |
142,30 |
138,50 |
142,50 |
-1.200 |
-200 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Hà My)
Theo khảo sát lúc 11h30 ngày 5/10, giá vàng nữ trang 24K giữ nguyên tại Công ty SJC, tập đoàn Doji, tập đoàn Phú Quý và hệ thống PNJ so với ngày 3/10, riêng Bảo Tín Minh Châu giảm 1,2 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 200.000 đồng/lượng ở chiều bán.
Công ty SJC duy trì giá mua vào ở mức 137,5 triệu đồng/lượng và bán ra 142 triệu đồng/lượng, không thay đổi ở cả hai chiều giao dịch.
Tại Hà Nội và TP HCM, tập đoàn Doji tiếp tục niêm yết vàng 24K ở mức 138,5 triệu đồng/lượng mua vào và 141,5 triệu đồng/lượng bán ra. Đơn vị này có giá thu mua cao nhất trong nhóm khảo sát.
Tập đoàn Phú Quý giữ giá mua vào tại 137 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra ổn định ở mức 142 triệu đồng/lượng so với ngày 3/10.
Hệ thống PNJ cũng giữ nguyên mức niêm yết 137,5 triệu đồng/lượng mua vào và 142,5 triệu đồng/lượng bán ra, tiếp tục có giá bán vàng nữ trang 24K cao nhất trong nhóm khảo sát.
Ở Bảo Tín Minh Châu, giá thu mua giảm 1,2 triệu đồng/lượng, xuống 137,3 triệu đồng/lượng; giá bán ra hạ 200.000 đồng/lượng, còn 142,3 triệu đồng/lượng. Mức giảm không đồng đều khiến chênh lệch giữa giá mua và bán mở rộng từ 4 triệu đồng/lượng lên 5 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 5/10 |
Phiên ngày 3/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
96,861 |
106,661 |
96,861 |
106,661 |
0 |
0 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
96,98 |
106,88 |
96,98 |
106,88 |
0 |
0 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
95,50 |
98,50 |
95,50 |
98,50 |
0 |
0 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Hà My)
Khảo sát lúc 11h30 ngày 5/10 ghi nhận giá vàng nữ trang 18K tại Công ty SJC, hệ thống PNJ và cửa hàng Mi Hồng đều giữ nguyên ở cả hai chiều so với ngày 3/10, không có thương hiệu nào trong nhóm khảo sát điều chỉnh giá.
Công ty SJC duy trì giá mua vào ở mức 96,861 triệu đồng/lượng và bán ra 106,661 triệu đồng/lượng, không thay đổi so với phiên đối chiếu.
Hệ thống PNJ tiếp tục niêm yết giá thu mua tại 96,98 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra ổn định ở 106,88 triệu đồng/lượng. Đây là đơn vị có giá mua và bán vàng 18K cao nhất trong nhóm khảo sát.
Cửa hàng Mi Hồng giữ giá mua vào ở mức 95,5 triệu đồng/lượng và bán ra 98,5 triệu đồng/lượng, đi ngang ở cả hai chiều so với ngày 3/10. Chênh lệch giữa giá mua và bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay tăng 0,39%, lên 4.155,6 USD/ounce theo Kitco. Giá vàng giao tháng 11 cũng nhích lên 4.157,62 USD/ounce tại thời điểm 14h00.
Với tỷ giá Vietcombank ở mức 26.170 đồng/USD, giá vàng thế giới quy đổi tương đương 131 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng trong nước 12,5 triệu đồng/lượng.
Cần biết 09:24 | 05/10/2026
Cần biết 14:00 | 02/10/2026
Cần biết 09:37 | 02/10/2026
Cần biết 14:00 | 01/10/2026
Cần biết 09:27 | 01/10/2026
Cần biết 14:00 | 30/09/2026
Cần biết 14:00 | 29/09/2026
Cần biết 09:42 | 29/09/2026