Saigon Co.op dẫn đầu thị phần trong nhóm doanh nghiệp bán lẻ trong nước

Theo nghiên cứu của Deloitte, các doanh nghiệp trong nước chiếm thị phần với tỉ lệ lớn đó là nhờ sự am hiểu thị trường nội địa và có sự đẩy mạnh cung cấp các sản phẩm mang nhãn hiệu riêng.
Saigon Co.op dẫn đầu các siêu thị chiếm 43% thị phần trong nước - Ảnh 1.

Người tiêu dùng mua hàng tại Saigon Co.op. (Ảnh: Saigon Co.op Mart).

Theo báo cáo "Ngành bán lẻ Việt Nam: Chuyển dịch nhanh sang mô hình bán hàng đa kênh" của Deloitte mới công bố gần đây, tính đến hết năm 2019, cả nước có 3.450 siêu thị, với tổng diện tích sàn lên đến hơn 1,6 triệu mét vuông và ghi nhận mức tăng trưởng doanh số năm 2019 là 16%, tỉ lệ cao nhất kể từ năm 2014.

Đáng chú ý, trong mảng các siêu thị điều hành bởi những doanh nghiệp trong nước, Saigon Co.op và Bách Hóa Xanh dẫn đầu về thị phần với tỉ lệ lần lượt là 43% và 14%.

Saigon Co.op dẫn đầu các siêu thị chiếm 43% thị phần trong nước - Ảnh 2.

Số điểm bán, diện tích và tăng trưởng doanh số các siêu thị tại Việt Nam (2014 - 2019). (Nguồn: Euromonitor, Deloitte).

Deloitte nhận định các doanh nghiệp trên có được kết quả đáng khích lệ như vậy là nhờ sự am hiểu thị trường nội địa và có sự đẩy mạnh cung cấp các sản phẩm mang nhãn hiệu riêng.

Đối với phân khúc đại siêu thị năm 2019, Việt Nam chứng kiến mức giảm trong tăng trưởng doanh số là 0,2% với 58 điểm bán. Theo Deloitte, phân khúc đại siêu thị thường đặt xa khu dân cư, có diện tích mặt bằng rộng nên đòi hỏi phải tiêu tốn chi phí cao hơn. Bên cạnh đó, người dân thành thị thường lui tới các siêu thị và cửa hàng tiện lợi để mua sắm.

Một số cái tên trong phân khúc đại siêu thị phải kể tới như Big C, Lotte Mart, AEON, Saigon Co.op, và E-Mart. Trong đó, Big C thuộc sở hữu của doanh nghiệp Thái Lan, chiếm thị phần lớn nhất với 57,6%.

Trong giai đoạn Covid-19, các mô hình mua sắm hiện đại như siêu thị và đại siêu thị ghi nhận sự tăng trưởng vượt trội hơn hẳn so với các mô hình mua sắm truyền thống. Theo Deloitte, lí do là bởi có sự đa dạng về các mặt hàng ở những điểm bán trên, giúp người dân dễ dàng mua sắm, giảm thời gian đi lại và tiếp xúc.

Tuy vậy, nhìn chung người tiêu dùng thành thị vẫn thường lui tới các siêu thị và cửa hàng tiện lợi nhiều hơn do mô hình này dễ tiếp cận với khách hàng. Đối với đại siêu thị, người tiêu dùng chỉ lui tới khi mua sắm với lượng hàng lớn.

Người tiêu dùng Việt cũng thường tiếp cận các siêu thị và thực hiện giao dịch trên các kênh thương mại điện tử nhiều hơn. Đơn cử, theo báo cáo của Deloitte, lượt khách đặt hàng qua điện thoại trong giai đoạn Covid-19 của siêu thị Saigon Co.op tăng từ 4 - 5 lần, lượt ghé thăm trang thương mại điện tử của hệ thống bán lẻ này tăng 10 lần kể từ tháng 1.

Số cửa hàng tiện lợi trên cả nước năm 2019 đạt 1.289 điểm bán, tăng 101 điểm bán so với năm 2018. Quy mô thị trường đạt đến 4,4 nghìn tỉ đồng, mức tăng trưởng doanh số bán hàng là 18%. Trong đó, các hãng bán lẻ chính phải kể đến là Family Mart, Circle K và B's Mart với thị phần lần lượt là 21,4%, 20,7% và 9,6%.

Báo cáo của Deloitte cũng cho biết dịch Covid-19 khiến cho nhiều khách hàng mới tới các cửa hàng tiện lợi nhiều hơn và thanh toán trực tuyến cũng tăng nhiều hơn. Lượng mua sắm trên kênh này đạt đỉnh điểm vào tháng 3.

Việt Nam được coi là thị trường có sự bùng nổ về thương mại điện tử, thu hút sự tham gia của hàng loạt các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tổng số vốn rót vào mảng kinh doanh này ước đạt 1 tỉ USD trong giai đoạn 2016 - 2019.

Hiện, tổng giao dịch thương mại điện tử ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP HCM đã tương tương với 70% tổng giao dịch. Các nhà mạng có khối lượng giao dịch lớn phải kể đến như Lazada, Shopee, Tiki, Thegioididong và Sendo, với Shopee chiếm vị trí đầu bảng với khoảng 16,8 % lưu lượng truy cập web kết hợp hàng tháng.

Deloitte nhận định đại dịch Covid-19 đã tạo nên sự chuyển dịch mạnh mẽ sang xu hướng mua sắm đa kênh. Các nhà bán lẻ đã kết hợp xây dựng kênh bán hàng tại cửa hàng và trực tuyến nhằm tối ưu hóa trải nghiệm của khách hàng, tiêu biểu như công nghệ "scan-and-go" (quét mã sản phẩm và thanh toán không tiếp xúc).

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thương mại điện tử cần tập trung mang đến sự linh hoạt và minh bạch thông tin cho người dùng, ví dụ như cho phép theo dõi quá trình vận chuyển hoặc lựa chọn thời gian nhận hàng.

chọn