Gợi ý giải đề thi thử môn Ngữ văn THPT quốc gia Sở GD&ĐT Hà Tĩnh

Sáng ngày 19/4, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh bắt đầu tổ chức kì thi thử THPT quốc gia môn Ngữ văn với thời gian làm bài 120 phút cùng 2 phần thi Đọc hiểu và Làm văn. Dưới đây, Ths. Phan Trắc Thúc Định sẽ gợi ý giải đề thi thử môn Ngữ văn.
goi y giai de thi thu mon ngu van thpt quoc gia so gddt ha tinh Đề thi thử THPT quốc gia 2018 môn Ngữ văn Sở GD&ĐT Lào Cai
goi y giai de thi thu mon ngu van thpt quoc gia so gddt ha tinh Giáo viên Cao Chí Bằng gợi ý giải đề thi đánh giá năng lực mẫu của ĐH Quốc gia TP HCM
goi y giai de thi thu mon ngu van thpt quoc gia so gddt ha tinh Gợi ý giải đề thi thử THPT quốc gia 2018 môn Ngữ văn Sở GD&ĐT Bắc Kạn

Dựa trên đề thi thử THPT quốc gia 2018 Sở GD&ĐT Hà Tĩnh, thầy giáo Ths. Phan Trắc Thúc Định (giáo viên trường THPT Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội) – giảng dạy và chấm thi nhiều năm các kì thi THPT quốc gia môn Ngữ văn) gợi ý giải đề thi thử môn Ngữ văn Sở GD&ĐT Hà Tĩnh.

goi y giai de thi thu mon ngu van thpt quoc gia so gddt ha tinh
Đề thi thử THPT quốc gia 2018 môn Ngữ văn Sở GD&ĐT Hà Tĩnh

Đây là dữ liệu để thầy cô và các em học sinh có thêm nguồn tư liệu tham khảo, phục vụ việc dạy và học. Mời bạn đọc tham khảo:

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được tác giả sử dụng trong đoạn trích trên?

Gợi ý đáp án:

Nếu đề yêu cầu xác định phương thức biểu đạt thì HS có thể trả lời theo nhiều đáp án; nhưng vì là “xác định phương thức biểu đạt chính” nên HS chỉ có thể đưa ra 1 đáp án chính là: Phương thức biểu đạt nghị luận/ Nghị luận.

Câu 2. Qua đoạn trích trên tác giả muốn đề cập vấn đề gì?

Gợi ý đáp án:

Với dạng câu hỏi xác định nội dung, chủ đề hay vấn đề mà tác giả muốn đề cập trong văn bản, HS có thể dựa vào các cách sau:

+ Đọc kĩ cả văn bản để xác định vấn đề chính.

+ Chú ý các câu chủ đề, câu chốt trong văn bản; hay các câu có tính chất lặp lại nhiều lần...

+ Chú ý nhan đề/ tiêu đề của văn bản (với các văn bản có nhan đề/ tiêu đề)...Vậy với câu hỏi này HS có thể lấy luôn nhan đề văn bản trên để trả lời. Vậy vấn đề mà tác giả muốn đề cập quan đoạn trích trên là: Xây dựng bản lĩnh cá nhân.

Câu 3. Tác giả quan niệm như thế nào về “bản lĩnh tốt”? Qua quan niệm đó, tác giả muốn gửi đến thông điệp gì?

Gợi ý đáp án:

HS cần đọc kĩ văn bản và trả lời 2 ý của câu hỏi:

Ý 1: Tác giả quan niệm như thế nào về “bản lĩnh tốt”?: HS cần đọc kĩ văn bản và tìm ra câu văn, đoạn văn được tác giả nói về “bản lĩnh tốt” (HS tránh suy luận, nghĩ ra quan niệm của bản thân mình). Vậy đáp án ở đây là: “Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự hài lòng của những người xung quanh...”.

Ý 2: Qua quan niệm đó tác giả muốn gửi gắm đến thông điệp gì?

Tác giả muốn gửi đến nhiều thông điệp – HS có thể tham khảo 1 số gợi ý sau:

+ Con người cần có bản lĩnh/ bản lĩnh tốt trong cuộc sống. Bản lĩnh phục vụ cho chính cá nhân/ cho mục đích sống tốt của cá nhân mỗi người.

+ Bên cạnh đó bản lĩnh tốt của mỗi người còn phục vụ mọi người – “được sự hài lòng của những người xung quanh”; làm cho cuộc sống của mỗi người, của mọi người, cho xã hội tốt hơn...

+ Khi xây dựng được bản lĩnh tốt, bạn không chỉ thể hiện được bản thân mình mà còn được nhiều người thừa nhận và yêu mến...

Câu 4: Anh/chị có đồng tình với quan niệm: “Bản lĩnh không kiểm soát được thì chỉ là sự liều lĩnh? Vì sao?

Gợi ý đáp án:

+ HS nêu được quan điểm của bản thân (đồng tình hoặc có bổ sung với quan điểm của tác giả)

+ HS trình bày rõ ràng, nêu ra căn cứ để thuyết phục quan điểm của mình:

+ HS có thể lựa chọn đồng tình, vì những lí do sau:

+ Trong cuộc sống không tránh khỏi có những lúc chúng ta rơi vào hoàn cảnh nóng giận, bực tức... Nếu chúng ta biết kiềm chế, kiểm soát được bản thân, chúng ta sẽ bình tĩnh đưa ra cách xử lí phù hợp thỏa đáng. Và ngược lại nếu “bản lĩnh không kiểm soát được” – nó sẽ gây ra những “hành động nông nổi”, thiếu suy nghĩ và hậu quả có thể là khôn lường.

+ Bản lĩnh của con người khi thường xuyên không kiểm soát được có thể hình thành “thói quen xấu”; những thói quen không tốt ấy sẽ dần hình thành “tính cách xấu” và rồi cuối cùng chúng ta sẽ có “số phận” không tốt cho mỗi chúng ta...

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ), trình bày suy nghĩ của mình về bản lĩnh sống của giới trẻ hiện nay.

Gợi ý đáp án:

1. Yêu cầu hình thức: HS đảm bảo viết thành 1 đoạn văn, dung lượng khoảng 200 chữ; HS nêu được luận điểm, thao tác và cách lập luận, diễn đạt rõ ràng.

2.Yêu cầu nội dung: HS triển khai vấn đề nghị luận tập trung, hiệu quả:

- HS nêu được vấn đề của đề bài – dẫn dắt từ nội dung của phần đọc hiểu gợi cho em nhiều suy nghĩ về “bản lĩnh sống của giới trẻ hiện nay”.

- HS cần giải thích được vấn đề “bản lĩnh” là gì: Bản lĩnh là khi bạn dám nghĩ, dám làm và có thái độ sống tốt; muốn có bản lĩnh bạn cũng phải kiên trì luyện tập...

- HS phân tích và nêu dẫn chứng:

+ Giới trẻ hiện nay có bản lĩnh sống: họ có mục đích, lí tưởng sống đúng đắn, cao đẹp; họ co tình cảm trong sáng, lành mạnh, nhân hậu; họ có những hành động tích cực hướng thiện; tích cực trau dồi kiến thức, trí tuệ; họ dám thể hiện cá tính, thể hiện tiếng nói của thế hệ, của tuổi trẻ...

+ Tuy nhiên 1 bộ phận giới trẻ hiện nay chưa có bản lĩnh sống: dễ bị những cám dỗ, tệ nạn xã hội lôi kéo; sống yếu đuối nhút nhát, không dám thể hiện mình; luôn bi quan, tự ti, ngại khó, ngại khổ, lười nhác, kém cỏi... Điều này rất đáng phê phán.

- HS bình luận:

+ Đánh giá vấn đề: bản lĩnh sống là rất cần thiết; và với thanh niên, giới trẻ hiện nay lại càng rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống tốt cho mỗi người; góp phần làm cho xã hội phát triển, tiến bộ.

+ Bàn bạc mở rộng vấn đề: Giới trẻ cần rèn luyện bản lĩnh: xác định đúng hoàn cảnh môi trường để bản lĩnh được thể hiện đúng lúc, đúng nơi không tùy tiện. Bên cạnh đó giới trẻ cần chuẩn bị cho mình sự nghị lực, sự tự tin, ý chí và quyết tâm...; trau rồi vốn trí thức và trải nghiệm, tin vào khả năng của bản thân...

Câu 2: (5,0 điểm)

Yêu cầu thí sinh cảm nhận về cách giải quyết bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba: kiên quyết từ chối nhập vào xác cu Tị và chọn cái chết để trả lại thân xác cho anh hàng thịt trong vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ.

Từ đó liên hệ với cách giải quyết bi kịch của nhân vật Chí Phèo: đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình trong truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao để thấy được quan niệm của 2 tác giả về giá trị sống đích thực của con người.

Gợi ý đáp án:

  1. Yêu cầu hình thức: HS đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận; diễn đạt rõ ràng, hành văn mạch lạc, lập luận chặt chẽ; liên hệ so sánh phù hợp; dùng từ, đặt câu, viết đúng chính tả, diễn đạt rõ ràng...
  2. Xác định yêu cầu của đề:

- Yêu cầu cơ bản của đề là thí sinh cảm nhận về cách giải quyết bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba: kiên quyết từ chối nhập vào xác cu Tị và chọn cái chết để trả lại thân xác cho anh hàng thịt trong vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12).

- Yêu cầu nâng cao (phân loại thí sinh) là: Từ đó liên hệ với cách giải quyết bi kịch của nhân vật Chí Phèo: đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình trong truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao để thấy được quan niệm của 2 tác giả về giá trị sống đích thực của con người.

3. Yêu cầu nội dung: HS triển khai vấn đề nghị luận tập trung, hiệu quả.

goi y giai de thi thu mon ngu van thpt quoc gia so gddt ha tinh
Thầy giáo Ths. Phan Trắc Thúc Định (giáo viên trường THPT Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội).

Dưới đây là một số gợi ý tham khảo:

A. Mở bài – nêu vấn đề của đề bài

- Giới thiệu đôi nét về nhà viết kịch Lưu Quang Vũ và vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt"; giới thiệu ngắn gọn bi lịch của nhân vật Trương Ba; nêu ra được vấn đề của đề yêu cầu là cách giải quyết bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba: kiên quyết từ chối nhập vào xác cu Tị và chọn cái chết để trả lại thân xác cho anh hàng thịt.

- Từ vấn đề trên: gợi cho em liên hệ tới cách giải quyết bi kịch của nhân vật Chí Phèo: đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình trong truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao để thấy được quan niệm của 2 tác giả về giá trị sống đích thực của con người.

B. Thân Bài: Triển khai vấn đề

1. Yêu cầu cơ bản: cảm nhận về cách giải quyết bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba: kiên quyết từ chối nhập vào xác cu Tị và chọn cái chết để trả lại thân xác cho anh hàng thịt.

a. HS tóm tắt được hoàn cảnh bi kịch Trương Ba từ đầu dẫn đến chọn lựa cuối cùng: kiên quyết nhập vào xác cu Tị và chọn cái chết để trả lại thân xác cho anh hàng thịt.

Đoạn trích có thể gọi là “Thoát ra nghịch cảnh” là cảnh cuối, đúng vào lúc xung đột trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng sống trong tình trạng “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, nhân vật hồn Trương Ba ngày càng trờ nên xa lạ với bạn bè, người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình.

Hồn Trương Ba cảm thấy không thể sống trong “da” anh hàng thịt, không thế kéo dài “nghịch cảnh” mãi được. Hồn muốn tách ra khỏi cái thân xác kềnh càng, thô lỗ. Trong tình trạng ấy; nhà văn đã sáng tạo khi dựng lên đoạn đối thoại giữa hồn và xác để rồi trước sự giễu cợt, mỉa mai của xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba càng trở nên đau khổ, bế tắc.

Thái độ cư xử của người thân trong gia đình (với người vợ, với cái Gái, với chị con dâu) càng khiến ông tuyệt vọng. Hồn Trương Ba đã châm hương gọi Đế Thích, hai bên đang đối thoại, thì cu Tị nhà hàng xóm chết.

Đế Thích gợi ý để hồn rời xác anh hàng thịt sang xác cu Tị. Nhưng hồn Trương Ba, sau một “quãng đời” vô cùng thấm thía đã qua, hình dung ra những “nghịch cảnh” khác khi phải sống trong thân xác một đứa bé đã quyết định xin cho cu Tị được sống và mình được chết hẳn.

b. HS nêu cảm nhận về hành động này của Trương Ba:

- Đây là hành động tất yếu khi Trương Ba thấm thía vô cùng vì quãng đời “phức tạp” vừa trải qua của mình khi nhập vào xác người khác (anh hàng thịt); và giờ này lại nhập vào xác một đứa trẻ con.

Theo Đế Thích thì ông với anh hàng thịt là hai người xa lạ, còn ông với cu Tị đã từng “quấn quýt mến nhau”, “ông sống trong thân thể thằng bé chắc sẽ ổn...”. Sau khi suy nghĩ một lát Trương Ba nhận thấy: ông già gần 60, cu Tị thì còn chưa bắt đầu cuộc đời, còn đang tuổi ăn tuổi lớn; rồi ông sẽ giải thích sao với chị Lụa rằng ông không phải là con chị ấy; rồi vợ con ông sẽ nghĩ ngợi ra sao khi chồng mình, bố mình mang thân một thằng bé lên 10; rồi cái Gái cháu ông sẽ nghĩ thế nào; rồi còn hàng xóm, lí trưởng, trương tuần....

Cái chết của cu Tị khiến cho những dằn vặt, day dứt trong ông bị dồn nén vào thế phải quyết định càng nhanh càng tốt trong tình trạng bi kịch. Cái chết của cu Tị đẩy nhanh hơn diễn biến của hành động kịch, buộc ông phải lựa chọn; một là nhập vào xác cu Tị ngay khi vừa chết, hai là ông để hồn cu Tị có chỗ trở lại nhập xác.

Không thể làm theo lời đề nghị của Đế Thích vì ông “lường trước bao sự không ổn”; ông không tham lam cuộc sống khi biết rằng tiếp tục vẫn là bi kịch. Trái tim nhân hậu của ông đã cầu xin mong mỏi Đế Thích “Ông hãy cứu nó”; hãy gọi hồn cu Tị nhập vào xác của nó và ông chọn cái chết để trả lại thân xác cho anh hàng thịt.

Ông mong muốn: “Tôi không muốn nhập vào hình thù ai nữa! Tôi đã chết rôi, hãy để tôi chết hẳn!”, để không còn sự tồn tại của “con vật quái gở” mang tên “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Bi kịch tâm hồn ông đã được giải quyết.

- Xây dựng tình huống và giải quyết xung đột như vậy, Lưu Quang Vũ đã gửi gắm một triết lí sâu sắc về lẽ sống, lẽ làm người: cuộc sống thật đáng quý, nhưng không phải sống thế nào cũng được.

Nếu sống vay mượn, sống chắp vá, không có sự hài hòa giữa vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách và nhu cầu vật chất thì con người chỉ gặp bi kịch mà thôi. Cuộc sống của mỗi con người chỉ thực sự hanh phúc, chỉ có giá trị khi được sống đúng là mình, được sống tự nhiên trong một thể thống nhất. Đó là chủ đề tư tưởng chính của vở kịch.

- Qua đây chúng ta cũng thấy được phẩm chất đáng quý, nhân hậu, trung thực và tình cảm đầy nhân văn của ông Trương Ba. Quả đúng vậy, sau khi hồn Trương Ba thoát khỏi xác anh hàng thịt, ông không vĩnh viễn mất đi như lời của Đế Thích nói. Ông trở lại nguyên vẹn trong tâm trí, tình yêu của vợ con và người thân (đoạn kết).

2.Yêu cầu phân hóa: Từ đó, liên hệ tới cách giải quyết bi kịch của nhân vật Chí Phèo: đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình trong truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao để thấy được quan niệm của 2 tác giả về giá trị sống đích thực của con người.

a. HS chỉ ra được điểm giống nhau trong cách giải quyết bi kịch của 2 tác giả để thấy được quan niệm của 2 tác giả về giá trị sống đích thực của con người.

- Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ tuy ra đời trong những hoàn cảnh xã hội - lịch sử khác nhau nhưng tất thảy đều đề cập đến những bi kịch của con người, trong đó có bi kịch tha hóa.

Qua 2 bi kịch và cách kết thúc của 2 tác phẩm, ta thấy giá trị phê phán tố cáo xã hội sâu sắc. Nỗi khốn khổ của Trương Ba và Chí Phèo đều do kẻ thống trị gây nên. Bá Kiến nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù 7,8 năm.

Tiếp thu sự giáo dục của nhà tù thực dân Chí Phèo đã trở thành kẻ côn đồ hung hãn, hắn vùng lên liều mạng để trả thù. Nhưng hắn đã gặp kẻ thống trị nham hiểm, xảo quyệt và bị biến thành công cụ cho kẻ thù của mình.

Ông Trương Ba từ hiền hậu tử tế, tốt bụng còn đang rất khỏe mạnh, mặc dầu chưa tận số đã phải chết thay cho một tên bạc ác bất nhân, dối trá tham tàn bởi cung cách làm việc luộm thuộm, thiếu trách nhiệm, muốn xong việc nhanh của Nam Tào…

- Cả 2 tác giả đều để nhân vật của mình rơi vào hoàn cảnh bi kịch trớ trêu: nếu Trương Ba là hoàn cảnh bi kịch “không thể bên ngoài một đằng bên trong một nẻo” mãi, còn Chí Phèo lại là bi kịch từ con người lương thiện “bị cự tuyệt quyền làm người”; bi kịch bần cùng hóa dẫn đến lưu manh hóa của người nông dân trước cách mạng. Và cả 2 nhân vật đều lựa chọn cái chết để thể hiện phẩm chất đáng quý của mình như:

+ Thoát khỏi nỗi tuyệt vọng, bế tắc của bản thân: Trương Ba nói nếu Đế Thích không giúp ông cũng sẽ “nhẩy xuống sông hay đâm một nhát dao vào cổ”; Chí Phèo thì sau khi chứng kiến Thị Nở “bắc lên cây cầu” giúp Chí quay lại với thế giới con người hoàn lương thì giờ thị lại rút cây cầu đó, rồi những ý kiến của bà cô Thị Nở là những định kiến xã hội... thì chỉ có cái chết mới giúp Chí thoát khỏi nghịch cảnh của mình. Bi kịch đau đớn của Chí là hắn chưa được xã hội ấy công nhận, hắn chết “trên ngưỡng của của sự quay lại làm người”.

+ Khát khao được sống trọn vẹn, nhân văn: Cái chết của Trương Ba là sự hòa hợp giữa tâm hồn và thể xác, muốn được cu Tị sống lại vì nó còn có cả “một cuộc đời phía trước”, ông hiểu vai trò của “đứa con đối với người mẹ” là như thế nào; còn Chí Phèo là sự khát khao hoàn lương từ con người bị đẩy vào tăm tối, cùng đường, Chí không chịu chấp nhận cuộc sống quỷ dữ nữa...

+ Cùng nhận ra cái chết có thể còn hơn cuộc sống lạc loài, vô nghĩa: Ông Trương Ba nhận thấy nếu mình sống đồng nghĩa mình phải giả tạo trong hình hài người khác, lạc lõng giữa đám hậu sinh thì thà chết còn hơn...; Chí Phèo cũng nhận ra nếu mình sống tiếp sẽ bị cả cái xã hội loài người xa lánh và coi mình là quỷ dữ thì chỉ có cái chết mới kết thúc tất cả. Do vậy giết Bá Kiến – trả thù xong; Chí cũng tự vẫn ngay, vì xã hội ấy không có chỗ cho con người như Chí tồn tại nữa.

=> Qua cái chết của Trương Ba và Chí Phèo, ta thấy được quan niệm của 2 tác giả về giá trị sống đích thực của con người: đó là quan niệm được sống làm người rất quan trọng, nhưng sống đúng là mình, trọn vẹn với những giá trị mình có mình theo đuổi, được sống trong lương thiện, được người khác trân trọng mới quý giá hơn nhiều. Con người phải luôn biết đấu tranh với nghịch cảnh để hoàn thiện nhân cách; vươn tới giá trị làm CON NGƯỜI cao quý theo đúng nghĩa.

b. HS chỉ ra được sự khác giống nhau trong cách giải quyết bi kịch của 2 tác giả:

- Trong tác phẩm “Chí Phèo”, khác với các nhà văn hiện thực phê phán đương thời Nam Cao không đi sâu miêu tả quá trình đói cơm, rách áo bần cùng khốn khổ của người nông dân- dù trong thực tế đó cũng là một hiện thực phổ biến.

Nhà văn trăn trở nhiều hơn về một hiện thực còn thảm khốc hơn đó là sự tha hóa… Cũng như Chí Phèo, Trương Ba trước đây là con người hoàn toàn khác. Trương Ba là người nông dân chăm chỉ, khéo léo,yêu thương vợ con, chiều quý các cháu, tốt bụng với hàng xóm láng giềng, yêu cây cỏ...

Từ khi sống trong xác anh hàng thịt, Trương Ba đã bị xác hàng thịt điều khiển, chi phối: trở nên vụng về, thô tục, thô bạo, vô tình; thích bán thịt, ham uống rượu, những nước cờ không còn phóng khoáng mà tủn mủn, vô hồn… Nếu Chí Phèo tha hóa mà không biết mình tha hóa, thì Trương Ba lại nhận thấy rất rõ tình trạng khốn khổ của mình.

- Hành động cuối cùng Chí Phèo giết Bá Kiến rồi tự sát nó là hành động manh tính chất manh động và cùng đường tuyệt vọng. Đến cuối cùng Chí mới hiểu bi kịch – tội ác cuộc đời của mình là do đâu.

Nam Cao xây dựng mối quan hệ Bá Kiến - Chí Phèo trở nên hết sức gay gắt, mối tình dang dở với Thị Nở cũng là cách đưa thêm dầu vào lửa, biến cơn say, cơn buồn, cơn thất tình ở Chí Phèo thành lòng căm hận, tức tối, quyết đến nhà Thị Nở để trả thù.

Quy luật lại không phải thế, quy luật đã kéo Chí đi nhưng là đến nhà Bá Kiến, chứ không phải ai khác. Kẻ đáng giết là Bá Kiến. Với cái kết thúc bất ngờ dữ dội của thiên truyện ngắn, Nam Cao đã cho chúng ta thấy kết quả tất yếu sẽ xảy ra, điều đó không thể tránh khỏi. Còn với Trương Ba ông có sự sáng suốt, sâu sắc trong sự lựa chọn cuộc sống – cái chết một cách rõ ràng hơn.

- Nếu bi kịch của Chí Phèo là bi kịch cùng đường, bi kịch bần cùng hóa dẫn đến lưu lanh hóa của người nông dân bị áp bức trước cách mạng, nhưng bi kịch của Trương Ba còn gợi ra những suy tư về mối quan hệ giữa hồn và xác, giữa ý thức và bản năng trong một con người: có ai là toàn vẹn hoàn hảo không? những đòi hỏi của thân xác có phải tội lỗi đáng ghê tởm không…?

Do vậy, cách kết thúc của Vở kịch mà Lưu Quang Vũ xây dựng sẽ vừa có ý nghĩa xã hội vừa mang tính triết lí sâu xa và mang tính thời đại.

=> Qua lựa chọn thể cái chết có phần khác nhau như trên của Trương Ba và Chí Phèo, ta thấy được quan niệm của 2 tác giả về giá trị sống đích thực của con người. Nam Cao với “Chí Phèo” muốn chỉ ra quan niệm về giá trị sống đích thực của con người trong xã hội với mối xung đột, mâu thuẫn giai cấp ở nông dân - địa chủ, nhất là nông dân đã chín muồi, đã đến mức sâu sắc và không gì có thể xoa dịu (trước cách mạng).

Còn hành động kiên quyết từ chối nhập vào xác cu Tị và chọn cái chết để trả lại thân xác cho anh hàng thịt của ông Trương Ba trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” lại đưa đến vẫn đề giá trị sống đích thực của con người hiện đại. Nó cũng gợi mở lối sống đúng đắn để đem lại hạnh phúc và sự thanh thản của tâm hồn con người.

goi y giai de thi thu mon ngu van thpt quoc gia so gddt ha tinh Đề thi thử THPT quốc gia 2018 môn Ngữ văn Sở GD&ĐT Lào Cai

Sáng ngày 19/4, Sở GD&ĐT Lào Cai bắt đầu tổ chức kì thi thử THPT quốc gia 2018 cho toàn bộ học sinh lớp 12. ...

goi y giai de thi thu mon ngu van thpt quoc gia so gddt ha tinh Giáo viên Cao Chí Bằng gợi ý giải đề thi đánh giá năng lực mẫu của ĐH Quốc gia TP HCM

Giáo viên Cao Chí Bằng - tác giả của nhiều bộ sách ôn thi THPT quốc gia gợi ý giải một phần đề thi đánh giá ...

goi y giai de thi thu mon ngu van thpt quoc gia so gddt ha tinh Gợi ý giải đề thi thử THPT quốc gia 2018 môn Ngữ văn Sở GD&ĐT Bắc Kạn

Gợi ý giải đề thi thử THPT quốc gia 2018 môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Bắc Kạn.

chọn