Chủ đầu tư kinh doanh BĐS cần có vốn chủ sở hữu không thấp hơn 15% tổng vốn đầu tư dự án

Chủ đầu tư kinh doanh dự án BĐS cần có vốn chủ sở hữu không thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha, hoặc không thấp hơn 15% đối với dự án có quy mô từ 20 ha trở lên.

Bộ Xây dựng đang tổ chức lấy ý kiến về dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản. Trong đó, Bộ đề xuất các nội dung về điều kiện của tổ chức, cá nhân khi tham gia kinh doanh bất động sản. 

Cụ thể, các tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, có ngành nghề kinh doanh bất động sản.

Thông tin về doanh nghiệp bao gồm tên, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật, số điện thoại liên lạc và các thông tin liên quan đến bất động sản đưa vào kinh doanh phải được công khai trên cổng TTĐT của doanh nghiệp, cổng TTĐT của cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và nơi có bất động sản đưa vào kinh doanh.

Các tổ chức, cá nhân chỉ được kinh doanh các bất động sản có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 9, Điều 55 của Luật Kinh doanh bất động sản.

Phải công khai thông tin bất động sản đưa vào kinh doanh trên cổng TTĐT của cả doanh nghiệp và địa phương - Ảnh 1.

Thông tin về doanh nghiệp và các thông tin liên quan đến bất động sản đưa vào kinh doanh phải được công khai trên cổng TTĐT của doanh nghiệp và địa phương. (Ảnh minh họa: Kiều Anh).

Đối với trường hợp là chủ đầu tư dự án bất động sản, ngoài các điều kiện trên, chủ đầu tư còn cần có vốn chủ sở hữu không thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha hoặc không thấp hơn 15% đối với dự án có quy mô từ 20 ha trở lên.

Việc xác định vốn chủ sở hữu được căn cứ vào kết quả báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất hoặc kết quả báo cáo kiểm toán độc lập của doanh nghiệp.

Đối với các trường hợp kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên thì không bắt buộc phải có các điều kiện quy định trên nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật.

Kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ được xác định trong trường hợp bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất dưới mức diện tích đất, diện tích sàn xây dựng nhà ở, công trình xây dựng do UBND cấp tỉnh quy định.

Kinh doanh bất động sản không thường xuyên bao gồm: bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất do phá sản, giải thể, chia tách; bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản thuộc sở hữu Nhà nước khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép; tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng, công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam thực hiện bán nhà ở, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng dự án đang bảo lãnh, thế chấp để thu hồi nợ theo quy định pháp luật; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp nhưng dưới mức diện tích đất, diện tích sàn xây dựng nhà ở, công trình xây dựng do UBND tỉnh quy định.


chọn